- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Võ Thị Hồng Ân - Huỳnh Thị Hoa"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A ÁN NH N D N HU N DẦU TIẾNG T NH B NH D NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/DS-ST Ngày: 28-6-2022 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NH N DANH
N C C NG H A X H CH NGH A V T NAM
T A ÁN NH N D N HU N DẦU T ẾNG, T NH B NH D NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Phi.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 235/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng Â, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp Long Điền, xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Có mặt
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp Long Thọ, xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt
N DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 23/6/2021, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Â trình bày: Vào ngày 29/6/2020 bà Â cho bà H mượn số tiền 50.000.000 đồng, thời gian trả là vào ngày 09/7/2020. Việc vay mượn tiền các bên có làm giấy tờ, bà H có ký tên xác nhận, việc mượn tiền không có lãi suất. Tuy nhiên, bà Â đã nhiều lần yêu cầu nhưng cho đến nay bà H không chịu trả tiền. Vì vậy, nay bà Â yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị H phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã mượn là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/01/2022 bị đơn bà H trình bày: Vào ngày 29/6/2020 bà H có mượn của bà Â số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 5%/ngày. Thời gian trả là vào ngày 09/7/2020, đến ngày 16/7/2020 bà H đã trả cho bà Â số tiền 50.000.000 đồng, bà H không còn thiếu nợ bà Â nữa, khi trả tiền cho bà Â thì không có ai làm chứng, bà H có đề nghị bà Â xé giấy nợ thì bà Â nói là để bà Â xé. Tuy nhiên, hiện nay bà Â khởi kiện bà H số tiền 50.000.000 đồng là vô lý, nay với yêu cầu khởi kiện của bà Â thì bà H không đồng ý vì đã trả nợ cho bà Â rồi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình tố tụng là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH C A T A ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3, Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hiện bị đơn đang cư trú tại xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1, Điều 35; khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn bà Huỳnh Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227,228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn bà  yêu cầu bị đơn bà H trả số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), chứng cứ mà nguyên đơn khởi kiện là giấy mượn tiền ngày 29/6/2020. Theo nội dung trong giấy mượn tiền thì bà H có mượn của bà  số tiền là 50.000.000 đồng. Vào ngày 09/7/2020 sẽ trả cho bà  số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên, cho đến nay bà H không thực hiện ngĩa vụ trả tiền. Bà H trình bày là đã trả số tiền 50.000.000 đồng cho bà  và hiện nay bà H không còn thiếu tiền bà  nữa nhưng bà H không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Vì vậy, nay bà  yêu cầu bà H trả số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) đã mượn là hoàn toàn có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng  đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H theo quy định tại Điều 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự.
Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QU ẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bả Võ Thị Hồng  đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc bà Huỳnh Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị Hồng H số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Huỳnh Thị H phải nộp số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng).
- Hoàn trả cho bà Võ Thị Hồng  số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà  đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0006770 vào ngày 07/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CCTHADS huyện Dầu Tiếng; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. H ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN - CH TỌA PH ÊN TOÀ Trần Quang Tuấn |