vanban.org

Bản án 59/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N, Giang Cẩm H (D) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt tiền đối với bị cáo Đặng Văn N 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Xử phạt tiền đối với bị cáo Giang Cẩm H (D) 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn N đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N, Giang Cẩm H (D) phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2021/HS - ST
Ngày: 23 - 6 - 2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đức Dũng

Bà Lại Thị Thúy Hằng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST-HS ngày 07/5/2021 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn N, sinh năm 1970 tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông: Đặng Văn S, sinh năm 1938; Con bà: Lê Thị X, sinh năm 1938; Vợ: Trần Thị D, sinh năm 1960 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11/12/2020 cho đến nay.

2. Giang Cẩm H (D), sinh năm 1963 tại thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Giang C, sinh năm 1934 (đã chết); Con bà: Dương M, sinh năm 1935; Vợ: Lê Thị Hồng N, sinh năm 1968 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11/12/2020 cho đến nay.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị D, sinh năm 1960. (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng:

1. Ông Vòng A S, sinh năm 1970. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

2. Bà Huỳnh Thế P, sinh năm 1959. (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

3. Ông Lai Cỏn S, sinh năm 1978. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lai Cỏn S, Đặng Văn N và Giang Cẩm H bắt đầu nhận ghi đề của các đối tượng đánh bạc trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ từ năm 2018. Hàng ngày, các đối tượng đánh bạc sẽ đến nhà H tại ấp T, xã B, huyện Cẩm Mỹ để ghi đề. Sau đó, H sẽ tập hợp các số đề rồi sử dụng số điện thoại 0934.082.260 gọi cho N qua số 0938.393.079 để giao đề và H sẽ nhận được 08% trên tổng số tiền ghi đề. Việc tính toán tiền ghi đề sẽ thực hiện vào ngày hôm sau, nếu các đối tượng thắng đề thì H sẽ lấy số tiền ghi đề đã nhận để chung chi trước, nếu vẫn còn thiếu thì trực tiếp gặp N lấy tiền. Sau khi nhận số đề của H và trực tiếp ghi đề một số đối tượng khác tại địa phương thì N sẽ tính toán, nếu thấy những số đề nào tỷ lệ trúng thấp sẽ giữ lại để trực tiếp ăn thua, những số đề còn lại N sẽ chuyển lại cho S và nhận 02% trên tổng số tiền ghi đề. N và S thỏa thuận cứ khoảng 01 tuần sẽ gặp nhau một lần để tính toán tiền thắng thua.

Từ ngày 27/11/2020 đến ngày 02/12/2020, H đã 06 lần ghi đề cho các đối tượng đánh bạc rồi giao toàn bộ số đề này cho N, sau đó N sẽ ôm một phần số đề, còn lại N sẽ chuyển cho S, cụ thể như sau:

- Ngày 27/11/2020, H ghi 01 tờ phơi đề cho 01 người với số tiền là 200.000 đồng rồi chuyển toàn bộ cho N nhưng không có người trúng đề.

- Ngày 28/11/2020, H ghi 01 tờ phơi đề cho 01 người với tổng số tiền là 400.000 đồng rồi chuyển toàn bộ cho N nhưng không có người trúng đề.

- Ngày 29/11/2020, H ghi 01 tờ phơi đề cho 01 người với tổng số tiền là 960.000 đồng rồi chuyển toàn bộ cho N nhưng không có người trúng đề.

- Ngày 30/11/2020, H ghi 05 tờ phơi đề cho 05 người với tổng số tiền 4.786.000 đồng rồi chuyển hết cho N. Sau đó, N giữ lại một phần, còn lại chuyển cho S. Tổng số tiền ghi đề mà N chuyển cho S dưới 2.000.000 đồng. Kết quả, ngày 30/11/2020, người chơi trúng được số tiền 5.950.000 đồng, những số đề trúng đều là của N giữ lại để trực tiếp ăn thua, còn những số đề N chuyển cho S thì không trúng.

- Ngày 01/12/2020, H ghi được 29 tờ phơi đề cho khoảng hơn 10 người với tổng số tiền là 10.478.000 đồng rồi chuyển toàn bộ cho N. Sau đó, N giữ lại một phần, còn lại chuyển cho S. Tổng số tiền ghi đề mà N chuyển cho S dưới 2.000.000 đồng. Kết quả, ngày 01/12/2020, người chơi trúng số tiền 14.700.000 đồng, những số đề trúng đều là của N giữ lại để trực tiếp ăn thua, còn những số đề N chuyển cho S đều không trúng.

- Vào khoảng 10 giờ ngày 02/12/2020, H bắt đầu ghi đề đài Đồng Nai cho một số người dân trên địa bàn xã B. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H đã ghi được 15 tờ phơi đề cho 15 người với tổng số tiền là 7.250.000 đồng. Khi H đang tập hợp lại chuẩn bị gọi điện chốt số đề với N thì bị phát hiện. Đến khoảng 15 giờ 25 phút ngày 02/12/2020, khi N đang nhận tin nhắn từ số điện thoại 0933.525.739 của Huỳnh Thế P với tổng số tiền là 1.231.000 đồng; tin nhắn từ số điện thoại 0934.619.611 của Vòng A S với tổng số tiền là 650.000 đồng và chờ H gọi điện để chốt số đề thì bị Công an huyện Cẩm Mỹ bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 7.250.000 đồng là tiền H đã nhận được khi ghi số đề cho các đối tượng đánh bạc vào ngày 02/12/2020; 01 Nokia 216, màu xanh gắn sim số 0933.525.739; 01 điện thoại di động OPPO A3S, màu đen, gắn sim số 0938.393.079; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu bạc, bên trong có sim số 0934.082.260; 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30s, màu đen, bên trong gắn sim số 0329.616.357 và 0363.779.088; 01 điện thoại Nokia màu đen, gắn sim số 0934.619.611; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Vbook được đánh số thứ tự từ 01 đến 53, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 02 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ (01 cuốn được đánh số thứ tự từ 01 đến 127 và 01 cuốn được đánh số thứ tự từ 01 đến 73, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu TPL, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 54, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hòa Bình, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 12, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 02 cuốn sổ kẻ ô ly, hiệu Futurebook, bên trong có ghi các con số.

- 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa 01 USB trích xuất dữ liệu điện thoại; 01 cuốn phôi đề được đánh số từ 01 đến 98, trên phôi đề có ghi chữ và các con số.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKS ngày 12/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Đặng Văn N và Giang Cẩm H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 - Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321, điều 35, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 47 – Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); đề nghị xử phạt tiền bị cáo Đặng Văn N từ 40.000.000đồng đến 45.000.000 đồng và áp dụng khoản 1, Điều 321, điều 35, điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 47 – Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Giang Cẩm H từ 35.000.000đồng đến 40.000.000đồng.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công số tiền 7.250.000 đồng; 01 Nokia 216, màu xanh gắn sim số 0933.525.739; 01 điện thoại di động OPPO A3S, màu đen, gắn sim số 0938.393.079; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu bạc, bên trong có sim số 0934.082.260; 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30s, màu đen, bên trong gắn sim số 0329.616.357 và 0363.779.088; 01 điện thoại Nokia màu đen, gắn sim số 0934.619.611;

Tịch thu lưu hồ sơ:

- 01 cuốn phôi đề được đánh số từ 01 đến 98, trên phôi đề có ghi chữ và các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Vbook được đánh số thứ tự từ 01 đến 53, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01 đến 127, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 02 cuốn sổ kẻ ô ly, hiệu Futurebook, bên trong có ghi các con số.

- 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa 01 USB trích xuất dữ liệu điện thoại; 01 cuốn phôi đề được đánh số từ 01 đến 98, trên phôi đề có ghi chữ và các con số.

Đối với 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01 đến 73, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu TPL, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 54, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hòa Bình, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 12, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số. Đây là các cuốn sổ ghi số tiền nợ mua hàng của bà Trần Thị D ghi lại, cần trả lại cho bà D.

Buộc bị cáo H nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.345.000đ; buộc bị cáo Nam giao nộp số tiền bất chính là 111.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể, ngày 02/12/2020, H đã ghi đề của các người dân trên địa bàn xã với số tiền là 7.250.000 đồng để giao cho N thì bị bắt quả tang. Qua kiểm tra, xác định được H đã nhiều lần ghi số đề sau đó giao lại cho N; N giao cho S để hưởng lợi. Hành vi của các bị cáo N và H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khai ra hành vi vi phạm xảy ra trước đây được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 – Bộ luật Hình sự; bị cáo N có thời gian tham gia chiến tranh bảo về Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia, thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bài bạc ăn tiền dưới mọi hình thức đều bị nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn và trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H tập hợp các số đề từ các đối tượng đánh bạc rồi sử dụng điện thoại gọi cho bị cáo N để giao đề và hưởng 8% trên tổng số tiền; còn bị cáo N thì nhận số đề từ bị cáo H nhưng có giữ lại một số đề để trực tiếp ăn thua, số còn lại thì chuyển cho S và hưởng 2% tổng số tiền giao cho S. Vai trò của các bị cáo trong vụ án là như nhau. Ngoài ra, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, nên xử phạt hình phạt tiền là đủ nghiêm.

Về vật chứng vụ án:

Tịch thu sung công số tiền 7.250.000 đồng; 01 Nokia 216, màu xanh gắn sim số 0933.525.739; 01 điện thoại di động OPPO A3S, màu đen, gắn sim số 0938.393.079; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu bạc, bên trong có sim số 0934.082.260; 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30s, màu đen, bên trong gắn sim số 0329.616.357 và 0363.779.088; 01 điện thoại Nokia màu đen, gắn sim số 0934.619.611;

Đối với 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa 01 USB trích xuất dữ liệu điện thoại; 01 cuốn phôi đề được đánh số từ 01 đến 98, trên phôi đề có ghi chữ và các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Vbook được đánh số thứ tự từ 01 đến 53, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01 đến 127, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 02 cuốn sổ kẻ ô ly, hiệu Futurebook, bên trong có ghi các con số. Đây là tài liệu ghi lại kết quả xổ số các đài hàng ngày để các bị cáo căn cứ vào đó xác định các đối tượng trên địa bàn ghi đề thắng hay thua. Do đó, đây chính là chứng cứ và để lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01 đến 73, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu TPL, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 54, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hòa Bình, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 12, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số. Đây là các cuốn sổ ghi số tiền nợ mua hàng tạp hóa, tiền hụi của các hộ dân được bà Trần Thị D ghi lại, cần trả lại cho bà D.

Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận số tiền thu lợi bất chính thu được là 1.345.000đ; bị cáo N khai nhận số tiền thu lợi bất chính thu được là 111.000đồng nên buộc các bị cáo phải giao nộp số tiền thu lợi bất chính sung công quỹ Nhà nước.

Đối với Lai Cỏn S, các bị cáo H, N khai sau khi ghi số đề sẽ giao cho S. Tài liệu chứng cứ thể hiện S nhận tiền của N ngày 30/11 và 01/12/2020 đều dưới 2.000.000đồng; ngày 02/12/2021 chưa giao cho S; S chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc”, chưa có căn cứ xác định hành vi của S phạm tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc” nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Mỹ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S là phù hợp.

Đối với ông Vòng A S, bà Huỳnh Thế P đánh bạc dưới 5.000.000đồng và chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc” nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Mỹ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S, P là phù hợp.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 35; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Đặng Văn N.

Căn cứ vào khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 35; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Giang Cẩm H (D).

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N, Giang Cẩm H (D) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt tiền đối với bị cáo Đặng Văn N 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).

Xử phạt tiền đối với bị cáo Giang Cẩm H (D) 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).

2. Về vật chứng vụ án, tịch thu sung công:

+ Số tiền 7.250.000đ (Bảy triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) (Theo biên lai nộp tiền số 007589 ngày 12/5/2021 của Công an huyện Cẩm Mỹ);

+ 01 Nokia 216, màu xanh gắn sim số 0933.525.739; 01 điện thoại di động OPPO A3S, màu đen, gắn sim số 0938.393.079; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu bạc, bên trong có sim số 0934.082.260; 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30s, màu đen, bên trong gắn sim số 0329.616.357 và 0363.779.088; 01 điện thoại Nokia màu đen, gắn sim số 0934.619.611;

Lưu hồ sơ vụ án 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa 01 USB trích xuất dữ liệu điện thoại; 01 cuốn phôi đề được đánh số từ 01 đến 98, trên phôi đề có ghi chữ và các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Vbook được đánh số thứ tự từ 01 đến 53, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01 đến 127, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 02 cuốn sổ kẻ ô ly, hiệu Futurebook, bên trong có ghi các con số.

(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ và Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ ngày 08/6/2021).

Giao trả lại cho bà Trần Thị D 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hanbook, màu đỏ được đánh số thứ tự từ 01 đến 73, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu TPL, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 54, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số; 01 cuốn sổ kẻ ô ly hiệu Hòa Bình, màu xanh được đánh số thứ tự từ 01 đến 12, trên mỗi trang giấy đều ghi các con số.

Buộc bị cáo Đặng Văn N nộp số tiền thu lợi bất chính là 111.000đ (Một trăm mười một ngàn đồng).

Buộc bị cáo Giang Cẩm H (D) nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.345.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).

3. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ