vanban.org

Bản án 59/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 14/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Phạm Thanh Hải, Lưu Bình Nguyên, Lê Minh Tiến và 06 dấu giáp lai của phò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2021/HSST
Ngày: 14 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Hà Vính

2. Ông Đào Quang Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Tuệ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2021/HSST, ngày 19 tháng 8 năm 2021 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2021/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Phạm Văn T; sinh ngày: 23/01/1994; tại: thị trấn K, huyện T, tỉnh H; nơi cư trú: Khu 3, thị trấn K, huyện T, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn C, sinh năm 1962; con bà: Vũ Thị V, sinh năm: 1964; Vợ: Bùi Thị T, sinh năm: 1998; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2021 đến ngày 11/6/2021, sau đó bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt tại phiên Tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 02/06/2021 Công an huyện Thạch Thành có mời anh Phạm Văn T, sinh năm 1994, trú tại khu 3, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đến Cơ quan Điều tra Công an huyện Thạch Thành để làm việc. Trong quá trình làm việc, tổ công tác nhận thấy T có biểu hiện nghi vấn Tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước, bên trái T đang mặc có 01 (một) hộp nhựa màu trắng có kích thước khoảng (05x07) cm, bên trong có 05 gói nilon màu trắng có kích thước khoảng (01x02) cm và 01 gói nilon có kích thước (04x06) cm, bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng. Khai thác nhanh tại chỗ, T khai nhận số hạt tinh thể màu trắng nêu trên là ma túy. Sau đó, Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật để phục vụ quá trình điều tra.

Ngày 03/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thành đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 99/CSĐT. Tại bản kết luận giám định số 1851/PC09 ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định: Các hạt tinh thể màu trắng nêu trên thu giữ của Phạm Văn T là chất ma túy, có tổng khối lượng là 0,657g, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn T khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy, do có nhu cầu sử dụng cho bản thân nên trước thời điểm bị bắt quả tang, T đi xuống khu vực đường Chánh thuộc thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, gặp một người đàn ông lạ mặt hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T trở về thị trấn K, huyện T và lấy một ít ma túy trong số ma túy vừa mua được trước đó ra để sử dụng. Sau đó phân chia số ma túy còn lại vào 06 túi nilon có kích thước khác nhau rồi bỏ vào hộp nhựa màu trắng và cất vào túi quần phía trước bên trái của mình. Đến 09 giờ cùng ngày, Công an huyện Thạch Thành mời T xuống làm việc. Trong quá trình làm việc, Phạm Văn T bị Tổ công tác đã phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Phạm Văn T không cung cấp được các thông tin về nhân thân, lai lịch cụ thể của người đàn ông đã bán ma túy cho mình, vấn đề này Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ.

Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định Phạm Văn T là người không có công ăn việc làm ổn định, thu nhập không có, hiện không có tài sản cá nhân riêng.

Về vật chứng vụ án: Thông qua bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm phong các đồ vật, tài liệu:

- 01 (một) hộp nhựa màu trắng có kích thước khoảng (05x07) cm, bên trong có 05 gói nilon màu trắng có kích thước khoảng (01x02) cm và 01 gói nilon có kích thước (04x06) cm, bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng, xác định là Methamphetamine. Sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn trả lại mẫu vật giám định. Hiện được bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSTT ngày 19/8/2021, viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/6/2021.

Về hình phạt tiền bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo Phạm Văn T.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu được.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh tụng tại phiên toà:

Bị cáo Phạm Văn T, không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên; Trong lời

nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để có điều kiện học tập, cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T thành khẩn nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 02/6/2021 tại Công an huyện Thạch Thành, Phạm Văn T đang cất giấu trên người 0,657 gam Methamphetamine thì bị Công an huyện Thạch Thành phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng do Phạm Văn T thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội, huỷ hoại trực tiếp sức khoẻ chính bản thân bị cáo và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Để pháp luật được thực thi, trật tự an toàn xã hội được duy trì; để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có hai tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và gia đình của bị cáo là người có công với cách mạng được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

. Về nguồn gốc số ma túy: Do T khai mua của một người không quen biết, không rõ nhân thân, đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là phù hợp.

. Về hình phạt tiền bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh điều kiện tài sản hiện tại của Phạm Văn T, xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng:

- Toàn bộ số ma túy thu được của Phạm Văn T là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Phạm Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/6/2021.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Phạm Thanh Hải, Lưu Bình Nguyên, Lê Minh Tiến và 06 dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa.

Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch thành theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 23/8/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ