- Tranh chấp gì? án hình sự — "Án Nguyễn Thị L phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2021/HS-PT Ngày: 03/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đình Thông
Ông Hồ Đức Quang
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền – Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2021/TLPT- HS, ngày 02/4/2021 đối v i bị cáo Nguyễn Thị L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 24/02/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị L; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1994. Quê quán: xã Kỳ Hải, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố C, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 3, phường H, thị xã K, Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá : L p 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình T; Sinh năm 1969 và con bà: Lê Thị V; Sinh năm: 1969. Chồng: Hoàng Văn V; Sinh năm: 1994, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: có 02 con, đứa l n sinh năm 2016, đứa nhỏ sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 04/8/2020, đến ngày 13/8/2020 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú(có mặt).
2. Nguyễn Như H; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13 tháng 11 năm 1980. Quê quán: xã K, huyện Kh, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT: tổ dân phố 2, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Thôn Xuân Thọ, xã Kỳ Tân, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Dân tộc: Kinh;
Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.Trình độ văn hoá: L p 12/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông: Nguyễn Tiến Kỳ. (đã chết) Con bà: Nguyễn Thị C; Sinh năm 1960. Chồng: Lê Thành M; Sinh năm 1978. Con: Có 05 con, l n nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú(có mặt).
3. Nguyễn Thị P; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1973. Quê quán: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Hưng Hòa, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: L p 07/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Nguyễn Tiến Hà, (Đã chết) và con bà: Lê Thị Minh; (Đã chết). Chồng: Lê Bá Lộc; Sinh năm: 1967 (Đã ly hôn). Con: có 02 con, l n sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 04/8/2020, đến ngày 13/8/2020 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
4. Nguyễn Tiến Dương; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03 tháng 8 năm 1984.Quê quán: phường K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Tân Phong, phường K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: L p 11/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Nguyễn Văn H; Sinh năm 1952; con bà: Nguyễn Thị L; Sinh năm: 1958. Vợ: Vũ Thị Hà T; Sinh năm 1993. Con: 01 đứa, sinh năm 2011.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 04/8/2020, đến ngày 13/8/2020 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú(có mặt).
5. Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1966. Quê quán: xã K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Hải Hà, xã K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: L p 07/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Sánh; (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1946. Vợ: Phạm Thị L (đã mất). Con: 01 đứa, sinh năm 1993. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 04/8/2020, đến ngày 13/8/2020 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú(có mặt).
6. Hoàng Văn V; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14 tháng 6 năm 1994. Quê quán: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố Châu Phố, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh . Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 3, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: L p 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn Nam; Sinh năm 1963. Con bà: Trần Thị Bình; Sinh năm: 1963. Vợ: Nguyễn Thị L; Sinh năm: 1994. Con: có 02 con, đứa l n sinh năm 2016, đứa nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội Cố ý gây thương tích, tại Bản án số 17/2013/HSST, ngày 13/3/2013 đã chấp hành xong bản án và đã xóa án tích. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 13/8/2020, đến ngày 11/11/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết được Nguyễn Như H làm “Chủ Đề” để đánh đề nên đầu tháng 02 năm 2020, Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị P đặt vấn đề ghi “Bảng Đề” cho người đánh “Đề” rồi chuyển cho Nguyễn Như H để hưởng tiền hoa hồng. Nguyễn Thị L lại rủ Trần Văn C, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị N, Hoàng Văn V ghi bảng “Lô, Đề” rồi chuyển cho Nguyễn Thị L để hưởng tiền hoa hồng. Sau khi ghi bảng đề, Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị P giữ lại một phần để làm (chủ đề), phần còn lại chuyển cho Nguyễn Như H. (Việc Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị P giữ lại một phần bảng đề thì Nguyễn Như H không biết).
Nguyễn Như H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị P, Trần Văn C, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Nhung và Hoàng Văn V thống nhất cách thức đánh bạc như sau: Việc đánh bạc dư i hình thức ghi Lô, Đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào hồi 18 giờ 15 phút đến 18giờ 30 phút hàng ngày làm căn cứ đối chiếu để phân định thắng, thua. Trên cơ sở kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng, có các hình thức đánh bao gồm: “Lô” là đánh 02 số cuối cùng của tất cả các giải thưởng (một điểm Lô tương ứng v i 23.000đ); “Đề” là đánh 02 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Ba càng” là đánh 03 số cuối cùng của giải đặc biệt; “Xiên 2” là đánh chuỗi 02 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Xiên 3” là đánh chuỗi 03 cặp số cuối cùng của tất cả các giải thưởng; “Đầu” là đánh số thứ tư của giải đặc biệt, cùng v i số cuối là tất cả các số từ 0 đến 9; “Đít” là đánh số cuối cùng của giải đặc biệt cùng v i số liền trư c đó từ 0 đến 09. Khi người chơi đánh số Lô, Đề, Ba càng, Xiên, Đầu, Đít trùng v i số tương ứng theo kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc của ngày hôm đó thì thắng, không trùng thì thua. Nếu thắng “Đề” thì tỷ lệ là 01 ăn 70 lần; nếu thắng “Đầu” hoặc “Đít” thì tỷ lệ là 01 ăn 07 lần; thắng 01 điểm “Lô” ăn 80.000đ; thắng “Ba càng” tỷ lệ là 01 ăn 350 lần; thắng “Xiên 2” tỷ lệ là 01 ăn 10 lần; thắng “Xiên 3” tỷ lệ là 01 ăn 40 lần. Nếu thua thì người tham gia đánh bạc phải trả cho “Chủ Đề” bằng số tiền mình đã đánh, ngược lại nếu thắng thì “Chủ Đề” phải trả cho người đánh Đề thông qua các thư ký ghi đề theo tỷ lệ quy định nêu trên.
Nguyễn Như H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị P, Trần Văn C, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Nhung và Hoàng Văn V thỏa thuận v i nhau về tiền hoa hồng người ghi đề được hưởng là Người ghi đề được hưởng từ 25% đến 28% trên tổng số tiền đánh “Đề”, “Xiên”, “Ba càng”, “Đầu”, “Đít” mà mình ghi được; Đối v i đánh “Lô” thì 01 điểm “Lô” người ghi bảng đề được hưởng từ 1.000 đồng đến 1.400 đồng.
Hằng ngày, Nguyễn Như H sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0972.494.027; Nguyễn Thị L sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0848.416.118 để nhận tin nhắn các bảng Lô Đề của các thư ký ghi đề. Sau khi tiếp nhận tin nhắn Lô, Đề của nhau, các “Chủ Đề” sẽ nhắn tin trả lời v i nội dung “OK” tức là đồng ý nhận bảng Lô, Đề đó. Khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hằng ngày thì “Chủ Đề” và người đánh Đề sẽ đối chiếu thắng, thua, nếu số tiền mà người đánh trúng Lô, Đề trong ngày l n hơn số tiền đánh Lô Đề trong ngày thì các “Chủ Đề” phải trả số tiền chênh lệch đó cho người đánh trúng đề và ngược lại. Việc thanh toán tiền thắng thua được thực hiện vào ngày hôm sau, khi đã đối chiếu kết quả thắng, thua. Trong ngày 02/3/2020 và ngày 04/8/2020, các bị cáo thực hiện đánh Lô, Đề cụ thể như sau:
Lần thứ nhất vào ngày 02/3/2020
Trần Anh Long sử dụng thuê bao điện thoại số 0945.004.345 nhắn tin vào số điện thoại 0867.768.786 của Hoàng Văn V đánh 300 điểm lô, tính thành tiền 300 x 23.000đ = 6.900.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền đề, ba càng, tổng cộng 10.900.000 đồng. Hoàng Văn V sử dụng thuê bao điện thoại 0867.768.786 nhắn tin vào số điện thoại 0848.416.118 của Nguyễn Thị L chuyển toàn bộ số lô đề do Trần Anh Long đánh cho Nguyễn Thị L. Hoàng Văn V được hưởng 1.100.000 đồng tiền hoa hồng từ Nguyễn Thị L.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của từng người được xác định là: Nguyễn Thị L: 18.900.000 đồng; Hoàng Văn V: 18.900.000 đồng và Trần Anh Long: 18.900.000 đồng.
Lần thứ hai vào ngày 04/8/2020
Trần Văn C sử dụng tài khoản Zalo có tên “Bibi Hehe” đăng ký số điện thoại 0818.181.314 nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “Good Luck” đăng ký số điện thoại 0848.416.118 của Nguyễn Thị L chuyển đánh 78 điểm lô, thành tiền là 78 x 23.000đ = 1.794.000 đồng và 1.610.000 đồng tiền đề xiên, tổng cộng 3.404.000 đồng, Trần Văn C sẽ được hưởng 503.900 đồng tiền hoa hồng từ Nguyễn Thị L.
Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2020 của từng người được xác định là: Trần Văn C 12.777.000 đồng; Nguyễn Thị L 7.744.000 đồng; Phạm Xuân Nhật 2.435.000 đồng; Trương Thị Thúy Hòa là 3.489.000 đồng.
* Đối v i Nguyễn Văn Đ:
Lê Minh Hoàng, sinh năm 1969, trú tại xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế sử dụng thuê bao điện thoại số 0816.131.127 nhắn tin vào số điện thoại 0328.489.064 của Nguyễn Văn Đ đánh 50 điểm lô, thành tiền 50 x 23.000đ = 1.150.000đ và 600.000đ đề, ba càng là , tổng cộng 1.750.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Lê Minh Hoàng không trúng, nên Lê Minh Hoàng thua 1.750.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Lê Minh Hoàng được xác định là 1.750.000 đồng. Lê Minh Hoàng chưa thanh toán tiền cho Nguyễn Văn Đ.
Nguyễn Song Đường, sinh năm 1972, trú tại thôn Châu Long, xã K, huyện K, Hà Tĩnh sử dụng thuê bao điện thoại số 0367.155.036 nhắn tin vào số điện thoại 0328.489.064 của Nguyễn Văn Đ đánh 50 điểm lô, thành tiền 50 x 23.000đ= 1.150.000đ và 100.000đ tiền đề, xiên, tổng cộng 1.250.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Nguyễn Song Đường trúng 40 điểm lô, thành tiền là 40 x 80.000đ = 3.200.000 đồng, Nguyễn Song Đường thắng bạc v i số tiền 1.950.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Song Đường được xác định là (1.250.000đ + 3.200.000đ)= 4.450.000 đồng. Nguyễn Song Đường chưa thanh toán tiền cho Nguyễn Văn Đ.
Ngoài ra Nguyễn Văn Đ còn ghi cho người đánh đề được 15 điểm lô, thành tiền 15 x 23.000đ = 345.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2020 của từng người được xác định là: Nguyễn Thị L 25.925.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 25.925.000 đồng; Lê Minh Hoàng 1.750.000 đồng; Nguyễn Song Đường là 4.450.000 đồng.
Nguyễn Thị L và Nguyễn Văn Đ chưa đối chiếu kết quả thắng thua và chưa thanh toán tiền cho nhau.
* Đối v i Nguyễn Tiến Dương:
Nguyễn Đình Điệp, sinh năm 1986, trú tại Tổ dân phố Tây Yên, Phường K, Thị xã K sử dụng thuê bao điện thoại số 0974.636.302 nhắn tin vào số điện thoại 0889.695.614 của Nguyễn Tiến Dương đánh 120 điểm lô, thành tiền 120 x 23.000đ= 2.760.000đ và 920.000đ tiền đề, xiên, ba càng, tổng cộng 3.680.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Nguyễn Đình Điệp không trúng, nên Nguyễn Đình Điệp thua 3.680.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Đình Điệp là 3.680.000 đồng. Nguyễn Đình Điệp đã thanh toán 3.000.000đ cho Nguyễn Tiến Dương
Lê Xuân Việt, sinh năm 1957, trú tại Tổ dân phố Trường Yên, Phường K, Thị xã K sử dụng thuê bao điện thoại số 0979.866.419 nhắn tin vào số điện thoại 0889.695.614 của Nguyễn Tiến Dương đánh 40 điểm lô, thành tiền 40 x 23.000đ= 920.000đ và 630.000đ tiền đề, xiên, tổng cộng 1.550.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Lê Xuân Việt trúng 10 điểm lô, thành tiền là 10 x 80.000đ = 800.000đ, Lê Xuân Việt thua bạc v i số tiền 750.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của Lê Xuân Việt là (1.550.000 đ + 800.000đ)= 2.350.000 đồng. Lê Xuân Việt đã thanh toán 1.000.000đ cho Nguyễn Tiến Dương.
Nguyễn Tiến Hải, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố Tân Phong, Phường K, Thị xã K, Hà Tĩnh sử dụng thuê bao điện thoại số 0384.256.567 nhắn tin vào số điện thoại 0889.695.614 của Nguyễn Tiến Dương đánh 20 điểm lô, thành tiền 20 x 23.000đ = 460.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Nguyễn Tiến Hải không trúng, nên Nguyễn Tiến Hải thua 460.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Tiến Hải là 460.000 đồng. Nguyễn Tiến Hải chưa thanh toán tiền cho Nguyễn Tiến Dương.
Ngoài ra, Nguyễn Tiến Dương còn ghi được cho người đánh đề được 1010 điểm Lô, thành tiền là 1010 x 23.000đ = 23.230.000đ và 1.010.000đ tiền đề, tổng cộng 24.240.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2020 của từng người được xác định là: Nguyễn Thị L 30.730.000 đồng; Nguyễn Tiến Dương 30.730.000 đồng; Nguyễn Đình Điệp 3.680.000 đồng; Lê Xuân Việt 2.350.000 đồng; Nguyễn Tiến Hải 460.000 đồng.
* Đối v i Nguyễn Thị Nhung:
Nguyễn Thị Nhung sử dụng tài khoản Zalo có tên “Abcd” đăng ký bằng số điện thoại 0868427.071 nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “Good Luck” đăng ký số điện thoại 0848.416.118 của Nguyễn Thị L chuyển đánh 214 điểm lô, thành tiền là 214 x 23.000đ= 4.922.000đ và 640.000đ tiền đề, xiên, tổng cộng 5.562.000 đồng, Nguyễn Thị Nhung sẽ được hưởng 438.200 đồng, tiền hoa hồng từ Nguyễn Thị L
Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2020 của từng người được xác định là: Nguyễn Thị L 8.042.000 đồng; Nguyễn Thị Nhung 8.734.000 đồng; Nguyễn Thị Thanh 75.000 đồng; Hoàng Văn Linh là 3.700.000 đồng và Vương Văn Bình là 20.000 đồng.
* Đối v i Nguyễn Thị P:
Nguyễn Tiến Trúc sử dụng thuê bao điện thoại số 0986.720.413 nhắn tin vào số điện thoại 0705.445.387 của Nguyễn Thị P đánh 80 điểm lô, tính thành tiền 80 x 23.000đ = 1.840.000 đồng và 3.410.000 đồng tiền đề, xiên, đầu đít, tổng cộng 5.250.000 đồng.
Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Nguyễn Tiến Trúc trúng 15 điểm lô, tính thành tiền là: 15 x 80.000đ = 1.200.000đ, như vậy Nguyễn Tiến Trúc thua bạc v i số tiền 4.050.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Tiến Trúc là (5.250.000đ + 1.200.000đ) = 6.450.000 đồng. Nguyễn Tiến Trúc đã thanh toán cho Nguyễn Thị P 5.000.000đ
Ngoài ra, Nguyễn Thị P còn ghi được cho người đánh đề được 680 điểm lô, thành tiền là 680 x 23.000đ = 15.640.000đ và 4.960.000đ tiền đề, ba càng, xiên, tổng cộng 20.600.000 đồng.
Như vậy, trong ngày Nguyễn Thị P ghi được 760 điểm lô và 8.370.000 đồng tiền đề, ba càng, xiên.
Nguyễn Thị P sử dụng tài khoản Zalo có tên “OK v i” đăng ký số điện thoại 0705.445.387 nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “Tien Tien” đăng ký số điện thoại 0972.494.027 của Nguyễn Như H chuyển đánh 760 điểm lô và 7.760.000 đồng tiền đề xiên, ba càng, tổng cộng 25.240.000 đồng, Nguyễn Thị P sẽ được hưởng 2.928.000 đồng tiền hoa hồng từ Nguyễn Như H.
Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày bảng đề Nguyễn Thị P chuyển đánh v i Nguyễn Như H trúng 190 điểm lô, thành tiền là 190 x 80.000đ = 15.200.000 đồng, Nguyễn Thị P thua bạc v i số tiền 10.040.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2020 của từng người được xác định là: Nguyễn Thị P 41.050.000 đồng; Nguyễn Như H 40.440.000 đồng và Nguyễn Tiến Trúc 6.450.000 đồng.
Nguyễn Như H và Nguyễn Thị P chưa đối chiếu kết quả thắng thua và chưa thanh toán tiền cho nhau.
* Đối v i Nguyễn Thị L:
Nguyễn Thị Ngọc Hà, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố Tân Tiến, Phường H, thị xã K, Hà Tĩnh sử dụng tài khoản Zalo có tên “Gia Hân” nhắn tin vào tài khoản Zalo có tên “Good Luck” đăng ký số điện thoại 0848.416.118 của Nguyễn Thị L đánh 60 điểm lô, thành tiền 60 x23.000đ = 1.380.000đ và 430.000đ tiền đề, đít, tổng cộng 1.810.000đ. Đối chiếu kết quả xổ số Miền bắc mở thưởng trong ngày thì Nguyễn Thị Ngọc Hà không trúng, nên Nguyễn Thị Ngọc Hà thua bạc v i số tiền là 1.810.000 đồng. Nguyễn Thị Ngọc Hà chưa thanh toán cho Nguyễn Thị L
Nguyễn Thị L nhận đánh từ Trần Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị Ngọc Hà là 1927 điểm lô, thành tiền là 44.321.000đ và 6.710.000đ tiền đề, xiên, đầu, đít, tổng cộng 51.031.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Thị L còn đánh thêm 160 điểm lô, thành tiền là 160 x 23.000đ = 3.680.000 đồng và 1.900.000đ tiền đề, tổng cộng 5.580.000đ. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì Nguyễn Thị L Trúng 40 điểm lô, thành tiền 40 x 80.000đ = 3.200.000 đồng. Tổng tiền Nguyễn Thị L tự đánh và trúng thưởng là: (5.580.000đ +3.200.000 đ)= 8.780.000 đồng.
Nguyễn Thị L sử dụng tài khoản Zalo có tên “Good Luck” đăng ký số điện thoại 0705.445.387 nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “Tien Tien” đăng ký số điện thoại 0972.494.027 của Nguyễn Như H chuyển đánh 620 điểm lô và 4.185.000 đồng tiền đề, tổng cộng 18.445.000 đồng, Nguyễn Thị L sẽ được hưởng 2.039.800 đồng tiền hoa hồng từ Nguyễn Như H.
Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày bảng đề Nguyễn Thị L chuyển đánh v i Nguyễn Như H trúng 70 điểm lô, thành tiền là 70 x 80.000đ = 5.600.000 đồng, Nguyễn Như H thắng bạc v i số tiền 12.845.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Như H nhận đánh bạc v i Nguyễn Thị L ngày 04/8/2020 được xác định là: (18.445.000đ + 5.600.000đ) = 24.045.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2020 của Nguyễn Như H là 24.045.000 đồng, Nguyễn Thị Ngọc Hà 1.810.000 đồng.
Như vậy, tổng tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị L trong ngày được xác định 04/8/2020 là: (7.744.000đ + 25.925.000đ + 30.730.000đ + 8.042.000đ + 1.810.000đ + 8.780.000đ) = 83.031.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Như H trong ngày 04/8/2020 được xác định: (40.440.000đ + 24.045.000đ) = 64.485.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thị L, Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Trần Văn C, Nguyễn Thị Nhung, Hoàng Văn V, Trần Anh Long, Nguyễn Tiến Trúc phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ Điểm b Khoản 2, Khoản 3, Điều 321; Điểm r, Điểm s Khoản 1, Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS; Xử phạt: Nguyễn Thị L 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 13/8/2020. Phạt tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng).
Căn cứ Điểm b Khoản 2, Khoản 3, Điều 321; Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phat: Nguyễn Như H 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Phạt tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng) .
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt Nguyễn Thị P 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 13/8/2020. Phạt tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng).
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt Hoàng Văn V 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/8/2020 đến ngày 11/11/2020. Phạt tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng).
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt Nguyễn Tiến Dương 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 13/8/2020. Phạt tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng).
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt Nguyễn Văn Đ 14 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8/2020 đến ngày 13/8/2020. Phạt tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng).
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt Trần Anh Long 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20(Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 58 Điều 65 BLHS; Xử phạt: Trần Văn C 09(Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, Điều 51, các Điều 17, Điều 35, Điều 58 Điều 65 BLHS; Xử phạt: Nguyễn Thị Nhung 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Điều 321; Điểm i, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 35, Điều 58 BLHS; Xử phạt; Nguyễn Tiến Trúc số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
Sau khi tuyên án sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của người kháng cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Như H
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V sửa bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm các bị cáo hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp v i các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp v i thời gian, địa điểm phạm tội cũng như phù hợp v i lời khai của các bị cáo khác. Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định: Trong hai ngày (ngày 03/02/2020 và ngày 04/8/2020), trên địa bàn thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Thị L và Nguyễn Như H làm “Chủ Đề” để đánh Lô, Đề v i những người chơi Lô, Đề (gọi tắt là người chơi Đề) được thua bằng tiền dư i hình thức gửi, nhận số đề qua tin nhắn điện thoại di động và tin nhắn trên ứng dụng tài khoản Zalo. Số tiền đánh bạc của mỗi người được xác định là: Nguyễn Thị L 101.931.000 đồng; Nguyễn Như H 64.485.000 đồng; Nguyễn Thị P 41.050.000 đồng; Nguyễn Tiến Dương 30.730.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 25.925.000 đồng; Trần Văn C 12.777.000 đồng; Nguyễn Thị Nhung 8.734.000 đồng; Hoàng Văn V 18.900.000 đồng; Trần Anh Long 18.900.000 đồng và Nguyễn Tiến Trúc 6.450.000 đồng,
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi, các bi cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo:
Đối v i kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L: Hội đồng xét xử thấy rằng Nguyễn Thị L là người làm “Chủ đề”, đã rủ Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn Đ, Trần Văn C, Hoàng Văn V và Nguyễn Thị N ghi bảng đề cho mình rồi chuyển một phần cho Nguyễn Như H còn lại phần l n làm “Chủ đề” có số tiền đánh bạc l n nhất là 101.931.000 đồng; Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy bị cáo phải chịu mức án cao nhất, hình phạt 42 tháng tù Tòa sơ thẩm tuyên là phù hợp v i tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ nào m i nên không có căn cứ để giảm nhẹ hơn nữa cho bị cáo, vì vậy kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như H: Bị cáo cũng là người làm “Chủ đề”, đã rủ Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị P trực tiếp ghi bảng đề cho mình và có số tiền đánh bạc là 64.485.000đ. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình được thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS m i: Bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền tịch thu sung công theo quyết định của bản án sơ thẩm chứng tỏ bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và mong muốn được sửa chữa sai lầm và hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nhà đông con, bị cáo có 05 con (l n nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2019), vợ chồng không có việc làm nên cần xem xét cải biện pháp cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, lao động nuôi sống bản thân và gia đình.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn Đ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị P tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung; vợ chồng bị cáo ly hôn đã lâu, 1 mình bị cáo nuôi 2 con ăn học, không có việc làm. Bị cáo Nguyễn Tiến D tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền tịch thu sung công theo quyết định của bản án sơ thẩm; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Nguyễn Văn Đ có vợ bị bệnh nặng đã nhiều năm vừa m i qua đời, bị cáo đang phải phụng dưỡng mẹ già bị liệt, ốm đau thường xuyên, bị cáo là lao động chính trong gia đình; các bị cáo đều được chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn; Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.
Đối v i bị cáo Hoàng Văn V: Bị cáo V có vai trò thứ yếu, bị cáo có nhân thân: năm 2013 đã bị TAND huyện Kỳ Anh xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” đã chấp hành xong bản án được xóa án tích tuy nhiên lại tiếp tục có hành vi phạm tội vì vậy mức án 10 tháng tù mà cấp sơ thẩm tuyên đối v i bị cáo là phù hợp. HĐXX thấy rằng, bị cáo Việt có vợ cũng là 1 bị cáo tham gia trong vụ án này (bị cáo Lài), bị cáo Lài bị xử phạt tù giam 42 tháng vì vậy nếu xử phạt tù bị cáo Việt thì gia đình bị cáo sẽ lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn, con cái còn nhỏ không ai chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy HĐXX thấy rằng cần giữ nguyên mức hình phạt 10 tháng tù đối v i bị cáo Việt và cho bị cáo được hưởng án treo vừa đảm bảo tính nghiêm minh và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội giúp đỡ gia đình.
Vì vậy kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V được chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L không được chấp nhận nên phải chịu án phí HSPT; các bị cáo Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí HSPT.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V; Sửa bản án sơ thẩm số 05/2021/HS-ST ngày 24/02/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thị L, Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm b Khoản 2, Khoản 3, Điều 321; Điểm r, Điểm s Khoản 1, Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; các Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS
Xử phạt Nguyễn Thị L 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/8/2020 đến ngày 13/8/2020.
Căn cứ điểm b Khoản 2, Khoản 3, Điều 321; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 BLHS; xử phạt Nguyễn Thị P 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt Nguyễn Tiến Dương 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ Khoản 1, Khoản 3, Điều 321; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Hoàng Văn V cho UBND phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến Dương cho UBND phường K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Như H, Nguyễn Thị P, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh - TA, CA, VKS, THA sơ thẩm; - Bị cáo kháng cáo; - Lưu hồ sơ, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |