vanban.org

Bản án 59/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 01/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Hồng L phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2021/HS-PT
Ngày : 01-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Tấn Tài

Ông Nguyễn Phước Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An

Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên

Trong ngày 01 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An

Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2021/HSPT ngày

16 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo Phan Hồng L. do có kháng cáo của bị cáo đối

với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2021/HS-ST ngày 09 tháng 06 năm 2021 của

Tòa án nhân dân huyện A.:

Bị cáo có kháng cáo:

Phan Hồng L., sinh năm 1978, tại huyện A., tỉnh An Giang, Nơi cư trú: ấp

Vĩnh Th., xã Vĩnh Tr., huyện A., tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình

độ văn hóa (học vấn): Lớp 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:

Tứ ân hiếu nghĩa. Con ông Phan Văn N. (đã chết) và bà Trần Thị T. (đã chết); Vợ

là Trần Thị Kim T1., sinh năm 1978 và có 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ

sinh năm 2009;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

(Trong vụ án còn có các bị cáo Đoàn Thanh M., Huỳnh Công H., Tống Văn

T2., Hồ Văn H1., Phạm Văn Đ., Trương Thanh G., Trần Văn T3., Phan Thanh D.,

Huỳnh Văn D1., Phan Thị H2., Lê Thị L., Nguyễn Thị Tuyết D2., Nguyễn Thị Đ1.,

Nguyễn Thị L1., Huỳnh Thị L2., Dương Ngọc T4. không có kháng cáo và không

bị kháng nghị)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác điều tra nghiệp vụ, khoảng 12 giờ 30 ngày 02/10/2020 Công

an tỉnh An Giang phối hợp cùng Công an huyện A. tiến hành bắt quả tang tụ điểm đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại khu đất vườn thuộc tổ 34, ấp Vĩnh Th., xã Vĩnh Tr., huyện A. do Đoàn Thanh M. tổ chức. Lực lượng tiến hành bắt quả tang đối với Đoàn Thanh M., Huỳnh Công H., Tống Văn T2. và 33 đối tượng về hành vi “tổ chức đánh bạc và đánh bạc”

Thu giữ: tiền trên chiếu bạc 7.150.000 đồng, tiền trên người các đối tượng

97.711.000 đồng và các dụng cụ dùng cho việc đánh bạc.

Quá trình điều tra xác định:

Ngày 19/9/2020, Đoàn Thanh M., Trần Hồng K. và Huỳnh Thanh T5. bàn

nhau tổ chức sòng tài xỉu được thua bằng tiền tại khu vực xã Vĩnh Tr., huyện A. để lấy tiền “xâu” bằng việc chia đôi số tiền thắng được với “người thủ cái” khi lắc ra chén “bảo”, thuê Tống Văn T2. làm nhiệm vụ canh đường vào sòng tài xỉu, thuê Huỳnh Công H. làm nhiệm vụ thu tiền xâu và đánh bạc dưới hình thức “bắt số” ăn thua trực tiếp với các con bạc.

Sau đó, M. thỏa thuận với Hồ Văn H1. đến “thủ cái” lắc, H1. đồng ý. Tiếp

đó, H1. thỏa thuận với Phạm Văn Đ. hùn vốn “thủ cái” lắc, được Đ. đồng ý.

Khoảng 11 giờ ngày 02/10/2020, H1. và Đ. lần lượt cầm cái lắc, H1. thuê

Trương Thanh G. và Phan Hồng L. làm vĩ chung chi tiền thắng thua cho những người tham gia đặt cược. H1. và Đ. không ăn thua với con bạc trong việc “bắt số”.

Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, lực lượng Công an đến bắt quả tang và

thu giữ trên người các đối tượng số tiền cụ thể như sau:

+ Đoàn Thanh M. 5.500.000 đồng, Huỳnh Công H., Tống Văn T2. mổi bị

cáo 106.000 đồng.

+ Hồ Văn H1. 10.206.000 đồng, Phạm Văn Đ. và Trương Thanh G. tổng

cộng 11.259.000 đồng.

+ Trần Văn T3. 3.270.000 đồng, Phan Thanh D. 2.859.000 đồng, Huỳnh

Văn D1. 3.000.000 đồng, Phan Thị H2. 284.000 đồng, Lê Thị L. 8.860.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết D2. 4.063.000 đồng, Nguyễn Thị Đ1. 4.071.000 đồng, Nguyễn Thị L1. 316.000 đồng, Huỳnh Thị L2. 240.000 đồng và cùng một số đối tượng khác.

Ngày 07/10/2020, Dương Ngọc T4. đến Công an xã V., huyện A. đầu thú

về hành vi đánh bạc tài sòng tài xỉu do M. tổ chức vào ngày 02/10/2020.

Ngày 11/10/2020, Đoàn Thanh M., Huỳnh Công H., Tống Văn T2., Hồ Văn

H1., Phạm Văn Đ., Trương Thanh G., Trần Văn T3., Phan Thanh D., Phan Thị H2., Huỳnh Văn D1., Nguyễn Thị Đ1., Lê Thị L., Huỳnh Thị L2., Nguyễn Thị L1., Nguyễn Thị Tuyết D2., Dương Ngọc T4. bị khởi tố điều tra.

Ngày 10/11/2020, Phan Hồng L. bị khởi tố điều tra

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2021/HS-ST ngày 09 tháng 06 năm 2021

của Tòa án nhân dân huyện A. đã quyết định:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm a, d khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều

38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 (đối với bị cáo Huỳnh Công H.),

Điều 55, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:

+ Đoàn Thanh M. 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”; 01 (một) năm 03

(ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 02

(hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2020.

+ Huỳnh Công H. 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, 09 (chín) tháng

tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 01 (một) năm

03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2020.

- Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản

1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Tống Văn T2. 01 (một)

năm 03 (ba) tháng tù về tội “ Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày

02/10/2020.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hồ Văn H1. 01 (một)

năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án

(khấu trừ thời hạn bị tạm giam từ ngày 02/10/2020 đến 30/12/2020 là 90 ngày).

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1,

khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:

+ Phạm Văn Đ. 03 (ba) tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

+ Trương Thanh G. 03 (ba) tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt

tù. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

+ Phan Hồng L. 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo

để thi hành án. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 (mười triệu)

đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 35, điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn T3. 25.000.000 (hai

mươi lăm triệu) đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2

Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Phan Thanh D., Huỳnh

Văn D1., Phan Thị H2., Lê Thị L., Nguyễn Thị Đ1., Nguyễn Thị L1., Huỳnh Thị

L2., Nguyễn Thị Tuyết D2., Dương Ngọc T4. – mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (hai

mươi triệu đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng

cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/6/2021 bị cáo Phan Hồng L. làm đơn kháng

cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phan Hồng L. vẫn giữ nguyên yêu

cầu kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo trình bày: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thật thà khai báo và thành khẩn ăn năn hối cải. Hiện tại, hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi vợ đang bị bệnh nặng không thể lao động và 02 con nhỏ còn đang đi học có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu

quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Phan Hồng L. kháng cáo

trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ

án, xét xử bị cáo Phan Hồng L. về tội “Đánh bạc” và tuyên phạt mức án 03 tháng tù là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp đủ số tiền theo hình phạt bổ sung là 10.000.000 đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên; đồng thời UBND xã Vĩnh Tr., huyện A. cũng có xác nhận bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Ngoài ra, trong thời gian tại ngoại bị cáo đã chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, không vi phạm gì mới cho nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hồng L., có thể xử phạt bị cáo 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm và phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bị cáo đã nộp phạt xong theo Biên lai thu tiền số 0002901 ngày 11/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A..

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Phan Hồng L. kháng cáo trong hạn luật định

nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Hồng L. tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay

hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Từ ngày 19/9/2020, Đoàn Thanh M., Trần Hồng K. và Huỳnh Thanh T5. bàn nhau đã tổ chức, thuê mướn, lôi kéo nhiều người tham gia chơi tài xỉu ăn thua bằng tiền tại khu đất vườn thuộc tổ 34, ấp Vĩnh Th., xã Vĩnh Tr., huyện A.. Đến khoảng 12 giờ 30 ngày 02/10/2020 thì bị bắt quả tang Đoàn Thanh M., Huỳnh Công H., Tống Văn T2. và 33 đối tượng tham gia đánh bạc với số tiền thu giữ trên chiếu bạc 7.150.000 đồng, trên người các đối tượng

97.711.000 đồng cùng các dụng cụ dùng cho việc đánh bạc. Do đó, cấp sơ thẩm

xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” và “ Đánh bạc” là hoàn toàn có căn

cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Còn đối với:

- Hành vi tham gia đánh bạc của Lê Quốc Th1., Lê Văn C., Phạm Thị N1.,

Nguyễn Thị L3., Trịnh Hoàng Thế H1., Phạm Thị Đ2. là vi phạm pháp luật nhưng

chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra –

Công an huyện A. xử phạt hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

- Trần Hồng K. và Huỳnh Thanh T5. là các đối tượng mà M. khai nhận thỏa

thuận cùng với M. tổ chức sòng tài xỉu để thu tiền xâu. Tuy nhiên chỉ có duy nhất

lời khai của M., không có chứng cứ nào khác; đồng thời K. và T5. cũng không có

mặt ở địa phương nên chưa thể xác minh, làm rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra -

Công an huyện A. sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

- Phần đất M. tổ chức sòng tài xỉu là của bà Nguyễn Thị Ng., các bà Trần

Thị R., Lê Thị Cẩm H3. tổ chức bán đồ ăn, thức uống … tại sòng tài xỉu do M. tổ

chức. Tuy nhiên không có căn cứ chứng minh những người này thỏa thuận, cũng

như hưởng lợi từ M. nên không xem xét xử lý mà công khai răn đe, giáo dục tại

phiên tòa là phù hợp.

Xét kháng cáo của bị cáo Phan Hồng L.:

Bị cáo đứng trước tòa là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức để

phân biệt đúng, sai, việc nào nên làm và không nên làm. Bản thân bị cáo có nghề

nghiệp và thu nhập ổn định, biết rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi đánh bạc dưới

mọi hình thức trong đó có việc chơi lắc tài xỉu; nhưng vì tư lợi, bị cáo cố tình thực

hiện hành vi phạm pháp, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo được H1. thuê làm

vĩ - thu chung tiền thắng, thua cho H1. và được H1. hứa trả công từ 200.000 –

300.000 đồng. Trong vụ án này, bị cáo được xác định là người giúp sức, là đồng

phạm trong tội “Đánh bạc” nhưng giữ vai trò không đáng kể. Hành vi của bị cáo

đã gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội.

Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Hoàn cảnh gia đình khó khăn; thái độ

khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; chưa tiền án tiền sự; bị cáo đã đến cơ quan

công an đầu thú; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được quy

định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên tuyên

phạt Phan Hồng L. 03 tháng tù là thỏa đáng; mức án trên là cần thiết để giáo dục

bị cáo trở thành một công dân tốt.

Lẽ ra phải giữ nguyên án sơ thẩm, tuy nhiên xét thấy: Thực tế bị cáo mới

tham gia làm vĩ cho H1. vào ngày 02/10/2020 thì bị bắt quả tang và bị cáo cũng

chưa được hưởng lợi. Từ khi vụ án khởi tố đến nay, trong thời gian tại ngoại bị

cáo đã chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, không vi phạm gì mới.

Mặt khác, bị cáo có nhân thân tốt, là bộ đội xuất ngũ, ít nhiều cũng có đóng góp

trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước; đồng thời UBND xã Vĩnh Tr., huyện

A. cũng có xác nhận bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính phải nuôi sống gia đình và các con nhỏ, nếu bắt bị cáo vào thụ hình án sẽ gây khó khăn, ảnh hưởng kinh tế cho bản thân và gia đình bị cáo. Ngoài ra, theo quyết định của bản án sơ thẩm, bị cáo L. bị áp dụng hình phạt bổ sung với số tiền 10.000.000 đồng; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp đủ số tiền này theo Biên lai thu tiền số 0002901 ngày 11/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A.. Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và chấp hành pháp luật của bị cáo đối với hành vi phạm tội đã gây ra. Đối chiếu Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do vậy, để thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội thực sự ăn năn hối cải và để tạo điều kiện cho bị cáo ở địa phương lao động chân chính phụ giúp gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, có thể giữ nguyên mức hình phạt tù của cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Phan Hồng L. không phải chịu

án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng

cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hồng L.. Sửa bản án hình sự sơ thẩm

về phần hình phạt.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Xử phạt: Bị cáo Phan Hồng L. 03 tháng (ba tháng) tù về tội “Đánh bạc”

nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm (một năm) kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 01/11/2021). Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bị cáo đã nộp xong theo Biên lai thu tiền số 0002901 ngày 11/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A..

Giao bị cáo Phan Hồng L. cho Ủy ban nhân xã Vĩnh Tr., huyện A., tỉnh An

Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải

chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bị cáo Phan Hồng L. không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo,

kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ