vanban.org

Bản án 59/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Tạ Văn Th. 2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Tạ Đức H, sinh ngày 30/5/2016 cho chị Q nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Q không yêu cầu anh Thống cấp dưỡng nuôi con nên anh Thống không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Thống có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn thị quý với tạ văn thống"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 14/9/2021.
“V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lại Thiện Phong

Bà Ngô Hồng Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 119/2021/TLST–HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST–HNGĐ, ngày 06 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Gi, xã A, huyện H, tỉnh B.

2. Bị đơn: Anh Tạ Văn Th, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện H, tỉnh B.

(Chị Nguyễn Thị Q vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Tạ Văn Th vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh Tạ Văn Th có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào ngày 08/3/2016. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn do vợ chồng anh chị thường xuyên cự cải bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm cho đến nay. Nay chị Q nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Q yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn Th.

Về quan hệ con chung: Chị Q xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh Tạ Văn Th có 01 người con chung là cháu Tạ Đức H, sinh ngày 30/5/2016. Hiện tại cháu H đang sống chung với chị Q. Chị Q yêu cầu được nuôi con nhưng chị Q không yêu cầu anh Tạ Văn Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị Q không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Tạ Văn Th không cung cấp lời khai của mình cho Tòa án, Tòa án có đến nơi cư trú của anh Thống để lấy lời khai nhưng anh Thống vắng mặt. Cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cư trú của anh Thống xác định: Anh Tạ Văn Th vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp C, xã N, huyện H, tỉnh B nhưng hiện tại anh Thống vắng mặt nơi cư trú, khi bỏ đi thì không có trình báo hay xin vắng mặt. Từ đó, Tòa án tiến hành niêm yết công khai tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định pháp luật nhưng đến nay anh Thống vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Tạ Văn Th;

2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Tạ Đức H, sinh ngày 30/5/2016 cho chị Q nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Q không yêu cầu anh Thống cấp dưỡng nuôi con nên anh Thống không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Thống có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn Th và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Tạ Văn Th có nơi đăng ký thường trú tại Ấp C, xã N, huyện H, tỉnh B nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Q. Bị đơn anh Tạ Văn Th vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Tạ Văn Th.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh Thống có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào ngày 08/3/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh Thống là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị Q xác định chị và anh Thống có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị Q không thể hàn gắn với anh Thống được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm cho đến nay. Nay chị Q nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn Th. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị Q và anh Thống có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm cho đến nay. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Q được ly hôn với anh Tạ Văn Th.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị Q xác định giữa chị và anh Thống có 01 người con chung là cháu Tạ Đức H, sinh ngày 30/5/2016. Hiện tại cháu Huy đang sống chung với chị Q. Chị Q yêu cầu được nuôi con nhưng không yêu cầu anh Thống cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Huy đang sống cùng chị Q và cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở, học ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Tạ Đức H, sinh ngày 30/5/2016 cho chị Q nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nên anh Thống không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Thống có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về quan hệ tài sản: Chị Q không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Tạ Văn Th.

2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Tạ Đức H, sinh ngày 30/5/2016 cho chị Q nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Q không yêu cầu anh Thống cấp dưỡng nuôi con nên anh Thống không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Thống có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Q phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị Q đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0005795 ngày 07/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ