- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc D - Đ173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HS-ST Ngày: 28-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn Tây;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2020 về tội “Trộm cắp tài sản”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2020/HSST-QĐ ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Quốc D, sinh năm 1993 tại tỉnh Hà Tĩnh; giới tính: Nam; nơi thường trú: Xóm B, xã Tr, huyện Kh, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; nghề nghiệp: Không; trình độ học v n: Lớp 12/12; con ông Phạm Đ, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1952; bị cáo có 04 anh, chị ruột, lớn nh t sinh năm 1974, nhỏ nh t sinh năm 1984; bị cáo chưa vợ, con.
- Tiền sự: Ngày 30/12/2017 Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính với số tiền 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi Sử dụng trái phép ch t ma tuý (chưa thi hành).
- Tiền án: Bản án số 325/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma tuý”.
- Nhân thân: Bản án số 43/2014/HS-ST ngày 15/4/2014 của TAND Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2019 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Hồ Gia B, sinh năm 1996; thường trú: Khu phố L, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Dương; yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Võ Văn C, sinh năm 1992; yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 2000; yêu cầu xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm 1, xã Gi, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Quốc D và đối tượng tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn với nhau. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/10/2019, C gọi điện rủ bị cáo D đi trộm cắp tài sản, D đồng ý. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh (không rõ biển số) đến khu vực phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đón bị cáo D. Trên đường đi C đưa cho bị cáo D 01 (Một) thanh kim loại màu vàng dài 04cm, 01 (Một) tay cầm bằng kim loại màu trắng và 01 (Một) dây kim loại hình chữ U để làm dụng cụ mở khóa xe mô tô.
Khoảng 19 giờ cùng ngày khi đi ngang quán cà phê Rural Coffee thuộc đường Trần Công An, khu phố Mỹ Hiệp, phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì C nhìn th y có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh-bạc biển số 61G1- 499.80 của ông Hồ Gia B đang dựng ở phía trước quán mà không có người trông coi. C quay xe lại và dừng ở lề đường cách quán cà phê Rural Coffee khoảng 15 mét để cảnh giới, bị cáo D dùng đoạn dây kim loại hình chữ U đ u vào bên trong tụ điện của xe mô tô biển số 61G1-499.80. Khi th y đèn xe mô tô sáng lên, bị cáo D đẩy xe ra phía ngoài đường Trần Công An rồi khởi động máy xe chạy về hướng thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo D đang điều khiển xe mô tô biển số 61G1- 499.80 chiếm đoạt của ông B đang lưu thông trên đường Lê Hồng Phong thuộc khu phố Chiêu Liêu, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì D bị Tổ tuần tra Công an phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, Bình Dương dừng phương tiện kiểm tra. Bị cáo D không xu t trình được gi y đăng ký xe mô tô nên Tổ tuần tra đã tạm giữ phương tiện và đưa về trụ sở làm việc. Bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô 61G1- 499.80 của ông B.
Tại Kết luận định giá số 294/KLTS-TTHS ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên, kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh – bạc, biển số 61G1- 499.80 đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá là 31.200.000đ (Ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 35/CT-VKS.TU ngày 30/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Quốc D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D đã bị kết án, chưa được xoá án tích nay lại phạm tội mới là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quốc D từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã trả lại cho bị hại Hồ Gia B chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh – bạc, biển số 61G1- 499.80; bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điều 46 và 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
+ Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (Một) thanh kim loại màu vàng dài 04cm, 01 (Một) tay cầm bằng kim loại màu trắng và 01 (Một) dây kẽm hình chữ U.
Sau khi chiếm đoạt được tài sản, đối tượng tên Công điều khiển xe tẩu thoát, do chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.
Quá trình điều tra, bị hại ông Hồ Gia B trình bày: Ông B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh – bạc, biển số 61G1- 499.80. Do đó, ông B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Võ Văn C1 trình bày: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 14/10/2019 ông C1 điều khiển xe mô tô hiệu SONIC không gắn biển số của vợ tên Nguyễn Thị H đi uống cà phê. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày ông C1 điều khiển xe mô tô hiệu SONIC về nhà. Khi ông C1 đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Lê Hồng Phong thuộc phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phường Tân Đông Hiệp tạm giữ do ông C điều khiển xe mô tô không gắn biển số, không xu t trình được gi y đăng ký xe. Sau đó, Công an phường Tân Đông Hiệp bàn giao hồ sơ và chiếc xe cho Công an phường Thái Hoà. Ông C1 không quen biết với bị cáo Phạm Quốc D.
Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà H là chủ sở hữu chiếc xe mô tô hiệu SONIC biển số 38P1-600.95. Ngày 14/10/2019, ông Võ Văn C1 là chồng của bà H điều khiển chiếc xe nêu trên và bị tạm giữ. Ngày 15/10/2019, Công an phường Thái Hoà, thị xã Tân Uyên đã trả lại xe cho bà Hiền.
Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo D đã nhận th y hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo là đúng thẩm quyền.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Phạm Quốc D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, thống nh t với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 14/10/2019, tại quán cà phê Rural Coffee thuộc đường Trần Công An, khu phố Mỹ Hiệp, phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị cáo Phạm Quốc D cùng đồng phạm tên Công đã chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu xanh-bạc biển số 61G1-499.80, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 31.200.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) của ông Hồ Gia B.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật B vệ mà còn gây m t an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì động cơ tư lợi và thái độ coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Phạm Quốc D đã đủ yếu tố c u thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, nội dung Cáo trạng số 35/CT-VKS.TU ngày 30/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, trong đó đối tượng C có vai trò đề xu t và thực hành tích cực; bị cáo D có vai trò thực hành hành tích cực.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Quốc D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Quốc D đã bị kết án về tội nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích nay lại phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý là tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt: Xét th y hành vi phạm tội của bị cáo D không những xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật B vệ mà còn gây m t an ninh, trật tự tại địa phương; gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có tiền án, tiền sự và nhân thân x u. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với tính ch t, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử ch p nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử th y:
Đối với các vật chứng gồm: 01 (Một) thanh kim loại màu vàng dài 04cm, 01 (Một) tay cầm bằng kim loại màu trắng và 01 (Một) dây kẽm hình chữ U đều là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 61G1-499.80 thuộc sở hữu của bị hại Hồ Gia B, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã trả lại cho bị hại, Hội đồng xét xử th y phù hợp pháp luật.
Theo Gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 040457 ngày 17/10/2019 do Công an tỉnh Hà Tĩnh c p thì bà Nguyễn Thị H là chủ sở hữu chiếc xe mô tô hiệu SONIC biển số 38P1-600.95. Ngày 15/10/2019, Công an phường Thái Hoà, thị xã Tân Uyên đã trả lại chiéc xe nêu trên cho bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử th y bà Hiền không liên quan đến vụ án nên việc trả xe cho bà H là phù hợp pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về kiến nghị:
Đối tượng tên Công có hành vi đồng phạm với bị cáo Phạm Quốc D nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch và địa chỉ. Do đó, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh xử lý đối với Công theo quy định của pháp luật.
Toà án đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để làm rõ vai trò của ông Võ Văn Cường trong vụ án do bị Công an phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An bắt giữ khi điều khiển xe mô tô đi gần với bị cáo Phạm Quốc D vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 14/10/2019. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa làm rõ vai trò của ông Võ Văn C1 trong vụ án. Do đó, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh để làm rõ vai trò của ông Võ Văn Cường trong vụ án để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 38, 46, 47 và 58 của Bộ luật hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2019.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (Một) thanh kim loại màu vàng dài 04cm, 01 (Một) tay cầm bằng kim loại màu trắng và 01 (Một) dây kẽm hình chữ U.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
4. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh xử lý theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng tên C và Võ Văn C1.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Quốc D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
6.1 Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6.2 Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - PV06, Công an tỉnh Bình Dương (01); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã Tân Uyên (01); - Công an thị xã Tân Uyên (03); - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên (01) (để thi hành); - Người tham gia tố tụng (04); - Lưu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn Hưng |