- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Võ Văn Th, phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HS-ST Ngày: 31 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Châu.
Ông Huỳnh Hoài Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Võ Văn Th, sinh năm 1970 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: xã CK, huyện LP, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn Kh và bà Phan Thị B; anh, chị, em ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1980; vợ: Nguyễn Thị K (đã ly hôn); con: 02 người (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Thái Văn Th, thuộc Văn phòng luật sư VT, đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: đường A, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Nguyễn Kim A, sinh năm 1983 – công chức tư pháp – hộ tịch xã CK. Địa chỉ liên hệ: Ủy ban nhân dân xã CK, huyện LP, tỉnh Sóc Trăng – được Ủy ban nhân dân xã CK, huyện LP cử giám hộ cho bị cáo (theo văn bản ngày 13/7/2020) (có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1973. Địa chỉ: Đường B, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Nguyễn Thị Bích Th, sinh năm 1978 (Vợ bị hại) (có mặt).
Địa chỉ: Đường B, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 08 tháng 9 năm 2019, Võ Văn Th (Th) sau khi đã uống rượu xong, một mình điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-316.86 số loại 50C3 có dung tích xi-lanh 49 lưu thông trên đường C theo hướng từ đường D về Cầu C, dự kiến về nhà đường E thành phố ST. Khi Th điều khiển xe đến giao lộ giữa đường C và đường Đ, thành phố ST, thì lúc này trời mưa Th bị nước mưa vào mắt, nhưng Th không dừng xe mà vẫn tiếp tục điều khiển, khi Th điều khiển xe đi trên làn đường bên trái đường C, với tốc độ khoảng 30 km/giờ, khi đến giao lộ Th điều khiển xe không giảm tốc độ và không nhường đường cho xe đi đến từ phía bên phải tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, nên bánh xe trước của Th điều khiển đụng vào giữa xe đạp do ông Nguyễn Tấn L đang điều khiển xe đi theo chiều hướng từ chợ Trung tâm thành phố ST về đường H. Sau khi va chạm cả hai xe ngã xuống đường, làm cả hai người bị thương, ông L được đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng điều trị đến ngày 16 tháng 9 năm 2019 thì tử vong do chấn thương sọ não, còn Th chỉ bị thương tích nhẹ.
Theo biên bản thử nghiệm nồng độ cồn trong hơi thở lập lúc 15 giờ 15 phút, ngày 08/9/2019 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng, thể hiện: Võ Văn Th có nồng độ cồn trong hơi thở qua kiểm tra bằng máy đo là 0,794 miligam/1 lít khí thở (vượt hơn 03 lần mức cho phép là 0,25 miligam/1 lít khí thở).
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 135/TT-PY, ngày 18 tháng 10 năm 2019 của Phòng hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: nguyên nhân nạn nhân L chết do chấn thương sọ não.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL.ĐGTS, ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng, kết luận: giá trị hư hỏng của xe gắn máy, mang biển số 83PT-316.86, nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C3, dung tích xi lanh 49, màu sơn ghi bạc là 700.000 đồng và giá trị hư hỏng của xe đạp, màu sơn vàng là 360.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, do nghi ngờ bị cáo Th có biểu hiện bệnh lý tâm thần. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng tiến hành trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với bị cáo Th, kết quả:
Tại bản kết luận giám định pháp y về tâm thần số 55 ngày 13/3/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: về y học trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại thì Võ Văn Th có bệnh lý tâm thần do chậm phát triển tâm thần nhẹ; Về năng lực thì tại thời điểm phạm tội và hiện tại thì Th bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Về trách nhiệm hình sự: tại thời điểm phạm tội và hiện tại Th có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng, trong quá trình điều tra đã tạm giữ, gồm: 01 (một) xe gắn máy, mang biển số 83PT-316.86, nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C3, dung tích xi lanh 49, màu sơn ghi bạc và 01 (một) xe đạp, màu sơn vàng. Qua làm rõ Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Bích Th 01 (một) xe đạp, màu sơn vàng.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS-TPST ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Võ Văn Th về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Võ Văn Th và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Võ Văn Th phạm tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn Th từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584,585, 589, 591 Bộ luật dân sự ghi nhận sự tự thỏa thuận của người đại diện hợp pháp cho bị hại và bị cáo. Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp bị hại số tiền 15.360.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giao trả lại cho bị cáo chiếc xe gắn máy mang biển số 83PT – 316.86 nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C3, dung tích xi lanh 49, màu sơn ghi bạc.
Về án phí: buộc bị cáo Võ Văn Th phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo luật sư Thái Văn Th thống nhất với Cáo trạng số 61/CT-VKS-TPST ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị Tòa án cho bị cáo Th được hưởng án treo, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì ghi nhận sự thỏa thuận của người đại diện hợp pháp bị hại và bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng truy tố; bị cáo khai về người thân của bị cáo hiện nay cha mẹ và anh em bị cáo đã đi làm ăn xa không rõ địa chỉ và 02 con của bị cáo thì từ nhỏ theo vợ bị cáo (bà Nguyễn Thị K) từ khi ly hôn đến nay, bị cáo không có liên lạc nên bị cáo không rõ địa chỉ; về chiếc xe gắn máy biển số 83PT-316.86 bị cáo mua của em ruột bị cáo là Võ Văn L nhưng không có làm giấy tờ mua bán; về bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại thì bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo bà Nguyễn Kim A thống nhất với ý kiến của người bào chữa.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Nguyễn Thị Bích Th trình bày: Về người thân của bị hại Nguyễn Tấn L, thì hiện nay cha mẹ ruột của bị hại đã mất, bà là vợ hợp pháp của bị hại, bị hại và bà có 02 người con là cháu Nguyễn Thị Thúy Ng, sinh ngày 24/12/2002 và cháu Nguyễn Hiếu Ng, sinh năm 17/12/2009 đang sống cùng bà, do hai cháu chưa đủ 18 tuổi nên bà đứng ra đại diện để làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án của chồng bà. Nay bà đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện đi làm để bồi thường cho bà, quá trình điều tra bà yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, chi phí mai tang, tiền tổn thất tinh thần, chi phí cấp dưỡng nuôi con với tổng số tiền 45.000.000 đồng, bà đã nhận số tiền 30.000.000 đồng bồi thường của bị cáo, nay bà đề nghị bị cáo bồi thường tiếp số tiền 15.000.000 đồng; và bồi thường chi phí thiệt hại đối với chiếc xe đạp của chồng bà số tiền là 360.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 08/9/2019 của Công an thành phố Sóc Trăng lập thể hiện (bút lục 134,135), vị trí gây tại nạn là ngã tư giao nhau giữa đường C và đường Đ, thành phố ST, không có vòng xuyến hoặc biển báo ưu tiên, tại hiện trường phát hiện “một vết cày xước còn mới dài 1m, từ điểm đầu vết cày xước đo vào mép đường là 2.55m, điểm cuối vết đo vào mép đường là 2.25m, vết này có chiều hướng từ đường D về hướng F. Từ điểm đầu vết cày xước đo đến cột điện số 4 là 10.10m, đây được xác định là điểm mốc của vụ tại nạn giao thông”.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/9/2019 và ngày 14/11/2019 (bút lục 69 đến 72) ông L Văn M trình bày: ông M là nhân viên bảo vệ của Cửa hàng TGDĐ vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 08/9/2019 lúc đó trời đang mưa, ông nhìn thấy có một chiếc xe đạp đi từ hướng chợ ST ngang qua đường C để qua hướng đường H, khi đi qua đường C ông thấy có chiếc xe ô tô nhường đường cho xe đạp đi, sau đó ông nghe tiếng đụng xe “rầm”, lúc đó ông nhìn thấy xe máy, xe đạp và 02 người đàn ông nằm ngã ra đường gần phía bên tiệm vàng TT, sau đó ông thấy bảo vệ của Cửa hàng Tiệm vàng TT ra để dìu người đi xe máy vào, còn người đi xe đạp được người ở tiệm HQ dẫn vào vỉ hè.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/9/2019 và ngày 28/5/2020 (bút lục 67, đến 73) ông Phan Xuân Anh K trình bày: ông K là nhân viên bảo vệ của Cửa hàng Tiệm vàng TT vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 08/9/2019 lúc đó trời đang mưa, ông nghe tiếng đụng xe “rầm”, lúc đó ông nhìn thấy xe máy, xe đạp và 02 người đàn ông nằm ngã ra đường gần phía bên Tiệm vàng TT cách lề đường khoảng 1m.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn Th khai nhận: khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 08 tháng 9 năm 2019, khi uống rượu xong, bị cáo một mình điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-316.86 số loại 50C3 có dung tích xi-lanh 49 lưu thông trên đường C, thành phố ST, khi đó trời mưa làm bị cáo không thấy đường, bị cáo vừa chớp mắt mở ra thì nghe tiếng “rầm”, bị cáo biết là bị cáo đụng vào người khác nhưng không biết ai, vị trí nào, sau đó bị cáo được đưa vào bệnh viện điều trị, cơ quan công an có tiến hành đo nồng độ cồn cho bị cáo kết quả là vượt quá quy định cho phép; cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo. Lời thừa nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các chứng cứ và tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, hành vi của bị cáo Võ Văn Th điều khiển xe mô tô trong trạng thái có nồng độ cồn trong hơi thở vượt hơn gấp 3 lần mức cho phép, thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi đến từ phía bên phải tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến dẫn đến gây tai nạn như trên, đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ, cụ thể: Khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, quy định nghiêm cấm người tham gia giao thông có các hành vi: “Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”; Khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ quy định: “Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải".
Theo kết luận giám định pháp y về tử thi số 135/TT-PY, ngày 18 tháng 10 năm 2019 của Phòng hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: nguyên nhân nạn nhân Nguyễn Tấn L chết do chấn thương sọ não. Từ những cơ sở nêu trên, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 08/9/2019 bị cáo sử dụng rượu và điều khiển xe gắn máy biển số 83PT-316.86 đến đoạn đường C, thành phố ST tại nơi giao nhau không có vòng xuyến gây tai nạn đối với ông Nguyễn Tấn L, dẫn đến ông L tử vong do chấn thương sọ não. Hành vi bị cáo Võ Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 61/CT-VKS-TPST ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Võ Văn Th thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng; đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Tòa án áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung hình phạt cho bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.
Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt không tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Tòa án xem xét áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 1, Điều 2, của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự của nhà nước ta.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 15.360.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường nên Tòa án ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp bị hại số tiền 15.360.000 đồng.
Về xử lý vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng đã thu giữ một xe gắn máy, mang biển số 83PT-316.86, nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C3, dung tích xi lanh 49, màu sơn ghi bạc, theo giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 172793, mang tên Võ Văn L.
Theo lời trình bày của bị cáo thì xe này là bị cáo mua của em trai bị cáo tên Võ Văn L không làm giấy tờ mua bán nhưng bị cáo đã quản lý, sử dụng chiếc xe này trên hai năm nay. Căn cứ biên bản xác minh ngày 18/5/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng thì Võ Văn L là em ruột của bị cáo Th và hiện nay đã đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh không rõ địa chỉ. Như vậy, về nguồn gốc xe gắn máy nêu trên đã rõ chủ sở hữu là của ông Võ Văn L nên lời khai của bị cáo là mua của ông L là có căn cứ vì bị cáo là người trực tiếp công khai quản lý, sử dụng chiếc xe gắn máy nêu trên mà không có tranh chấp nên cần giao trả lại cho bị cáo Th tiếp tục quản lý, sử dụng là phù hợp, sau này nếu có tranh chấp thì ông L có quyền khởi kiện vụ án dân sự đối với bị cáo để đòi lại tài sản.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại.
Xét lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ phù hợp nhận định của Tòa án nên được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 48, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008; Điều 584, 585, 589, 591 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Võ Văn Th, phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Xử phạt: bị cáo Võ Văn Th 2 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 4 (bốn) năm, kể từ ngày 31/7/2020.
Giao bị cáo Võ Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã CK, huyện LP, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Th thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Võ Văn Th phải bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp bị hại, người đại diện nhận là bà Nguyễn Thị Bích Th số tiền 15.360.000 (mười lăm triệu ba trăm sáu mươi ngàn) đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Giao trả cho bị cáo Võ Văn Th một xe gắn máy, mang biển số 83PT-316.86, nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C3 (theo biên bản giao nhận vật chứng là 50C), dung tích xi lanh 49, màu sơn ghi bạc.
(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Văn Th phải nộp là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 768.000 (bảy trăm sáu mươi tám ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - Cơ quan CSĐT Công an TP Sóc Trăng; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THA Dân sự thành phố Sóc Trăng; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - UBND xã CK, huyện LP, Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ. - Lưu Tòa án thành phố Sóc Trăng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trúc Phƣơng |