vanban.org

Bản án 59/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 08/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn M mức phạt tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); Bị cáo Đỗ Đức T mức phạt tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh T và đồng phạm phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 59/2020/HS-ST
Ngày: 08 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Lâm và ông Trịnh Ngọc Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXXST– HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Trần Mạnh T - Tên gọi khác: T Bầu, sinh năm 1983, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp Đ T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần M T, sinh năm 1962 và bà Ngô Thị Y, sinh năm 1964; vợ: Võ Thị H, sinh năm 1984; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 27/3/2020 đến ngày 29/3/2020. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

2. Tạ Văn M, sinh năm 1979, tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Ấp Đ T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn H (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1943; vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1979; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị tạm giữ từ ngày 27/3/2020 đến ngày 29/3/2020. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

3. Đỗ Đức T, sinh năm 1987, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết Đ, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950; vợ: (Đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 27/3/2020 đến ngày 29/3/2020. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

4. Đỗ Hoàng D, sinh năm 1989, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hoàng A, sinh năm 1966 và bà Trần Thị H, sinh năm 1968; vợ, con, tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 27/3/2020 đến ngày 29/3/2020. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

5. Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1991, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T Q, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Thị Lệ H; vợ, con, tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/01/2012, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị tạm giữ từ ngày 27/3/2020 đến ngày 29/3/2020. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Tạ Văn N, sinh năm 1977, nơi cư trú: Ấp Đ T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Nguyễn Văn T, sinh năm 1990, nơi cư trú: Ấp Đ T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 23 giờ 30 phút, ngày 26/3/2020, tại nhà bị cáo Trần Mạnh T, địa chỉ: Ấp Đ T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú phát hiện, lập biên bản bắt quả tang đối với Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D và Nguyễn Quốc Th đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài cào tố.

Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm: Số tiền 10.660.000 đồng, 01 chăn màu đỏ, 01 chiếu cói, 01 ca nhựa, 02 bộ bài tây.

Thu giữ của các bị cáo gồm:

Đỗ Đức T số tiền 3.901.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel và 01 xe mô tô biển số 60B3-042.82; Đỗ Hoàng D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus và 01 xe mô tô biển số 60P2-7942; Tạ Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím 1200 và Nguyễn Quốc Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám bạc.

Quá trình điều tra đã xác định:

Tối ngày 26/3/2020, Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D, Nguyễn Quốc Th, Tạ Văn N, Nguyễn Văn T và Th, S (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi đến nhà Trần Mạnh T. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, M, T, D, Th, T và S nói muốn đánh bạc tại nhà T thì T đồng ý và lấy 01 chăn màu đỏ, 01 chiếu cói, 01 ca nhựa, 02 bộ bài tây và đồ ăn, nước uống để phục vụ việc đánh bạc nhằm mục đích hưởng lợi từ việc thu tiền “xâu”.

Hình thức đánh bạc bài cào tố: Mỗi người được chia 03 lá bài, đặt tiền mỗi ván là 20.000 đồng (gọi là “tẩy”). Sau khi chia bài, người chia bài sẽ đặt cược thêm (còn gọi là “tố”), số tiền “tố” mỗi lần không quá 300.000 đồng mỗi người, sau khi có người “tố” thì lần lượt những người còn lại sẽ “theo” (tức là đặt cược bằng hoặc hơn số tiền người trước đã “tố”) hoặc không “theo” thì úp bài và chịu mất số tiền đã đặt cược. Sau khi “tố” xong thì sẽ xét điểm của những người tham gia “tố”, ai cao điểm hơn thì sẽ ăn hết số tiền đặt cược trên chiếu bạc của ván đó. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Qua điều tra người tham gia đánh bạc khai nhận về số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau:

- Tạ Văn M mang theo 2.500.000 đồng dùng để đánh bạc và thua 360.000 đồng, còn lại 2.140.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc.

- Đỗ Hoàng D mang theo 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc và thắng số tiền 1.400.000 đồng, tổng số tiền là 2.400.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc.

- Nguyễn Quốc Th mang theo 900.000 đồng dùng để đánh bạc và thua hết số tiền trên.

- Đỗ Đức T mang theo 4.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để trả nợ cho Tạ Văn M, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc và thắng số tiền 2.150.000 đồng, tổng số tiền là 4.150.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc. Ngoài ra, cơ quan điều tra thu giữ trong người T số tiền 3.901.000 đồng cũng được dùng để đánh bạc.

- Số tiền “xâu” mà Trần Mạnh T hưởng lợi từ việc phục vụ với số tiền 460.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc.

Như vậy, số tiền dùng vào mục đích đánh bạc của các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th và Đỗ Hoàng D vào ngày 26/3/2020 là tổng số tiền thu trên chiếu bạc 10.660.000 đồng + 3.901.000 đồng (số tiền T mang theo được dùng vào mục đích đánh bạc) = 14.561.000 đồng. Tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 14.561.000 đồng.

Đối với bị cáo Trần Mạnh T có hành vi cho các bị cáo khác sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu của mình, cung cấp công cụ, đồ ăn, nước uống phụ vụ cho việc đánh bạc và thu lợi bất chính từ việc đánh bạc với số tiền 460.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với vai trò đồng phạm.

Cáo trạng số 59/CT-VKSTP-ĐN ngày 19/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T, về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Trên cơ sở phân tích dấu hiệu phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

- Về tội danh: Các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T phạm tội: “Đánh bạc”.

- Về mức hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T, xử phạt:

Bị cáo Tạ Văn M mức phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Đỗ Đức T mức phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Nguyễn Quốc Th mức phạt tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng;

Bị cáo Đỗ Hoàng D mức phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;

Bị cáo Trần Mạnh T mức phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công: Số tiền 14.561.000 đồng vì đây là số tiền dùng vào mục đích đánh bạc.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chăn màu đỏ, 01 chiếu cói, 01 ca nhựa, 02 bộ bài tây vì đây là công cụ dùng vào mục đích đánh bạc, không còn giá trị sử dụng.

Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, 01 xe mô tô biển số 60P2-7942 thu của Đỗ Hoàng D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím 1200 thu của Tạ Văn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám bạc thu của Nguyễn Quốc Th là tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả cho các bị cáo.

Đối với các đối tượng tên là Thanh, Sơn (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục xác M, điều tra làm rõ và xử lý sau theo quy định pháp luật.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nội dung lời khai của những người tham gia tố tụng:

- Các bị cáo thừa nhận nội dung của Bản cáo trạng là đúng sự thật; các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Ông Tạ Văn N và ông Nguyễn Văn T thống nhất trình bày: Khoảng 21 giờ, ngày 26/3/2020, các ông chứng kiến việc các bị cáo M, D, T, Th và các đối tượng khác (không biết tên, địa chỉ) đánh bạc tại nhà bị cáo T. Bị cáo T thu tiền xâu từ các việc đánh bạc của các bị cáo. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì công an bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về trách nhiệm hình sự:

. Xét về hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, cũng như các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Vào hồi 23 giờ 30 phút, ngày 26/3/2020, tại nhà bị cáo Trần Mạnh T, địa chỉ: Ấp Đ T, xã T S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú phát hiện, lập biên bản bắt quả tang đối với Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D và Nguyễn Quốc Th đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài cào tố. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 10.660.000 đồng và 3.901.000 đồng thu giữ trong người bị cáo T được dùng vào mục đích đánh bạc, tổng cộng 14.561.000 đồng.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Tối cao thì:

“3. Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

.....”

Như vậy, tổng số tiền thu tại chiếu bạc và thu giữ trong người các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th và Đỗ Hoàng D có căn cứ xác định sẽ dùng vào việc đánh bạc là 14.561.000 đồng và các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền nói trên.

Đối với bị cáo Trần Mạnh T không trực tiếp tham gia đánh bạc. Tuy nhiên, bị cáo T có hành vi đồng ý cho các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D và Nguyễn Quốc Th sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu của mình để đánh bạc, cung cấp công cụ phục vụ việc đánh bạc và hưởng lợi từ việc đánh bạc số tiền 460.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các tội phạm khác. Vì vậy để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội phải xét xử và áp dụng cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo M, D, T, Th có vai trò là người thực hành, tham gia đánh bạc; bị cáo T có vai trò người giúp sức tích cực nhằm thu lợi bất chính nên mức hình phạt của các bị cáo là ngang nhau.

. Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Các bị cáo M, T, D và T có nhân thân tốt. Bị cáo Th có nhân thân xấu, đã bị kết án tuy đã xóa án tích nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải tuyên mức hình phạt nghiêm M hơn các bị cáo khác.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử cân nhắc để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Từ nội dung đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định mức án phù hợp đối với từng bị cáo, vừa thể hiện tính nghiêm M và sự khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công số tiền 14.561.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc đây là khoản tiền liên quan, sử dụng vào việc phạm tội;

- Tịch thu tiêu hủy 01 chăn màu đỏ, 01 chiếu cói, 01 ca nhựa, 02 bộ bài tây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội do không còn giá trị sử dụng;

- Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản điện thoại di động và xe mô tô đã thu giữ của các bị cáo mà không liên quan đến vụ án là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với các đối tượng tên là Thanh, Sơn (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục xác M, điều tra làm rõ và xử lý sau theo quy định pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị mức hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Đối với các bị cáo Đỗ Đức T, Đỗ Hoàng D, Nguyễn Quốc Th và Trần Mạnh T còn được áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

1. Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn M, Đỗ Đức T, Nguyễn Quốc Th, Đỗ Hoàng D và Trần Mạnh T phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn M mức phạt tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng);

Bị cáo Đỗ Đức T mức phạt tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng);

Bị cáo Nguyễn Quốc Th mức phạt tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng);

Bị cáo Đỗ Hoàng D mức phạt tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng);

Bị cáo Trần Mạnh T mức phạt tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng);

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.561.000đ (Mười bốn triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lại thu số 002144 ngày 06/7/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú.

- Tịch thu tiêu hủy 01 chăn màu đỏ, 01 chiếu cói, 01 ca nhựa, 02 bộ bài tây là công cụ dùng vào mục đích đánh bạc, không còn giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/07/2020 giữa cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú).

3. Về án phí : Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ