vanban.org

Bản án 59/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 31/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hàng H 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn H (Kh) 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hàng H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hàng H 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? luật Hình sự xử các; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2020/HS-ST
Ngày 31- 7 -2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thả;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hàng H, sinh năm 1993 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Phượng Ho, xã Cẩm Ho, huyện Cẩm Gi, tỉnh Hải Dương; nơi đang sinh sống hiện nay: Ấp Đông Bi, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Bá H và bà Bùi Thị T; vợ tên Nguyễn Thị H; con có 02 người lớn nhất sinh năm 2015 nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Trần Xuân Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu phố 2, phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; nơi đang sinh sống hiện nay: Ấp Đông Bi, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Xuân Q và bà Vũ Thị Th; vợ tên Lê Thị D; con có 01 người sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Bùi Đoàn H (Kh), sinh năm 1988 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm Ngọc L, xã Linh S, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nơi đang sinh sống hiện nay: Ấp Đông Bi, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Bùi Đoàn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

4. Bùi Đoàn H, sinh năm 1992 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm Ngọc L, xã Linh S, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nơi đang sinh sống hiện nay: Ấp Đông Bi, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Bùi Đoàn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

5. Vũ Văn Th, sinh năm 1993 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T Xứng, xã An H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; nơi đang sinh sống hiện nay: Ấp Đông Bi, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn H và bà Phạm Thị Th; vợ tên Nguyễn Thị Kim Ng; con có 01 người sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ, ngày 10/10/2019 thì H, Đ và Th có tổ chức sinh nhật cho H và H tại Công ty TNHH Sơn Thủy Phát; địa chỉ: Ấp Đông Bi, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì Trần Xuân Đ khởi xướng đề cập cả nhóm là hùn tiền mua ma túy đem đến quán Karaoke “Sài Gòn” thuộc ấp Đông Thành, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để sử dụng thì tất cả đều đồng ý. H, Đ, H, H mỗi người hùn 2.000.000 đồng để mua ma túy, riêng Th không hùn do không có tiền. Sau đó, H điện thoại cho người phụ nữ tên Xuân, khoảng 19 tuổi, ngụ thành phố Tây Ninh (chưa rõ nhân thân) để mua 03 bịch ma túy với số tiền 5.400.000 đồng. Do H bận công việc nên H điều khiển xe ô tô biển số 51C – 493.12 chở Đ, H và Th đi nhận ma túy, khi đi đến khu vực ngã ba đèn đỏ trên đường Tỉnh lộ 785 thuộc ấp Tân Xuân, xã Tân Phú, huyện Tân Châu thì gặp một người thanh niên, khoảng 25 tuổi (chưa rõ nhân thân), H xuống xe nhận 03 bịch và 06 viên ma túy và hẹn trả tiền sau. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ, H, H, Th đem ma túy vừa mua được đến phòng số 4, karaoke “Sài Gòn” để sử dụng cùng với Hải và các tiếp viên Nguyễn Thị Thanh Th, Đỗ Thị Thu Th, Nguyễn Thị Trà M thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H, Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

* Kết luận giám định số: 1521/KL-KTHS ngày 14/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 (Hai) bịch ny lông được hàn kín một đầu (kí hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; Là loại Ketamine; Khối lượng 0,8844 gam.

- Mẫu 01 (Một) viên nén dạng chất bột màu xám (kí hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy; Là loại MDMA; Khối lượng 0,4018 gam.

- Mẫu chất bột mịn màu trắng bên trong 01 (Một) cái đĩa tròn bằng sứ (kí hiệu M3) gửi đến giám định là chất ma túy; Là loại Kentamine; Khối lượng 0,0459 gam.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng là Ketamine (ký hiệu M1) có khối lượng 0,7685 gam.

- 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng là MDMA (ký hiệu M2) có khối lượng 0,2480 gam.

- 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 đĩa tròn bằng sứ.

- 01 vỏ bịch ny – lông được hàn kín một đầu.

- 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, có in chữ nổi Tran Xuan Duc.

- 01 ống để sử dụng ma túy được làm bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 559948.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 910579.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 171112.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 755705.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 517581.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 182308.

- Tiền Việt Nam: 4.491.000 đồng.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 984579 của Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 2000, ngụ: ấp An Quới, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã chuyển cho Công an huyện Tân Châu xử lý theo thẩm quyền.

- 01 xe ô tô biển 51C – 493.12, số máy: P4AT1188606, số khung: FF80FW279368 đã trao trả cho anh Nguyễn Tăng Như, sinh năm 1985, ngụ: tổ 7, phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai là người được ủy quyền của Công ty TNHH MTV XNK Phương Thùy, địa chỉ: 188 Tô Ký, tổ 13, khu phố 2, phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

* Kê biên tài sản: Bị can Nguyễn Hàng Hải, Trần Xuân Đức, Bùi Đoàn Hùng, Bùi Đoàn Hậu, Vũ Văn Thanh không có tài sản nên không kê biên.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H, Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã nêu.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSTC ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H, Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H, Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đồng thời Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hàng H từ 09 đến 12 tháng tù.

+ Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ từ 09 đến 12 tháng tù.

+ Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn H từ 09 đến 12 tháng tù.

+ Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn H từ 09 đến 12 tháng tù.

+ Xử phạt bị cáo Vũ Văn Th từ 09 đến 12 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

* Đối với Nguyễn Thị Thanh Thủy, Đỗ Thị Thu Thảo, Nguyễn Thị Trà My không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Tân Châu xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

* Đối với chủ cơ sở kinh doanh quán karaoke “Sài Gòn” bà Đào Thị Cẩm Vân không biết việc các bị can tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng để các bị can sử dụng phòng karaoke làm nơi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tân Châu đề nghị Chủ tịch UBND huyện Tân Châu xử lý đối với cơ sở kinh doanh quán karaoke “Sài Gòn” là đúng quy định.

* Đối với người tên Xuân và người thanh niên bán ma túy cho các bị can H, Đ, H, H, Th do chưa rõ nhân thân, địa chỉ, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Vào ngày 10/10/2019, tại quán karaoke “Sài Gòn” thuộc ấp Đông Thành, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H, Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th đã cùng nhau thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1521/KL-KTHS, ngày 14/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 (Hai) bịch ny lông được hàn kín một đầu (kí hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; Là loại Ketamine; Khối lượng 0,8844 gam.

- Mẫu 01 (Một) viên nén dạng chất bột màu xám (kí hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy; Là loại MDMA; Khối lượng 0,4018 gam.

- Mẫu chất bột mịn màu trắng bên trong 01 (Một) cái đĩa tròn bằng sứ (kí hiệu M3) gửi đến giám định là chất ma túy; Là loại Kentamine; Khối lượng 0,0459 gam.

Tổng các chất ma túy có khối lượng là 1,3321 gam.

Do đó đã đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H, Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, vi phạm khoản 2 Điều 3 Luật phòng chống ma túy; gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của các bị cáo đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho từng bị cáo.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi các bị cáo đã gây ra và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải được thể hiện qua kết quả xét nghiệm ma túy, ngày 07/02/2020 thì các bị cáo đều âm tính với chất ma túy, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng Điều 54 của bộ luật Hình sự xử các bị cáo dưới khung hình phạt mà viện kiểm sát đã truy tố cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với Nguyễn Thị Thanh Th, Đỗ Thị Thu Th, Nguyễn Thị Trà M không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Tân Châu xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Đối với chủ cơ sở kinh doanh quán karaoke “Sài Gòn” bà Đào Thị Cẩm V không biết việc các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tân Châu đề nghị Chủ tịch UBND huyện Tân Châu xử lý đối với cơ sở kinh doanh quán karaoke “Sài Gòn” là đúng quy định.

Đối với người tên Xuân và người thanh niên bán ma túy cho các bị can H, Đ, H, H, Th do chưa rõ nhân thân, địa chỉ, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng là Ketamine (ký hiệu M1) có khối lượng 0,7685 gam; 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng là MDMA (ký hiệu M2) có khối lượng 0,2480 gam; 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 đĩa tròn bằng sứ; 01 vỏ bịch ny – lông được hàn kín một đầu là vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng, nên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy.

- 01 ống để sử dụng ma túy được làm bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 559948 của Nguyễn Hàng Hải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 171112 của Trần Xuân Đức là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, có in chữ nổi Tran Xuan Duc; số tiền 677.000 (sáu trăm bảy mươi bảy nghìn) đồng của Nguyễn Hàng Hải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 910579 của Trần Xuân Đức; số tiền 2.609.000 đồng của Trần Xuân Đức; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 755705 của Bùi Đoàn Hùng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 517581 của Bùi Đoàn Hậu; số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 182308 của Vũ Văn Thanh; số tiền 705.000 đồng của Vũ Văn Thanh. Các bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên trả lại cho các chủ sở hữu.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 984579 của Nguyễn Thị Thanh Thủy, sinh năm 2000, ngụ: ấp An Quới, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã chuyển cho Công an huyện Tân Châu xử lý theo thẩm quyền.

- 01 xe ô tô biển 51C – 493.12, số máy: P4AT1188606, số khung: FF80FW279368 đã trao trả cho anh Nguyễn Tăng Như, sinh năm 1985, ngụ: tổ 7, phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai là người được ủy quyền của Công ty TNHH MTV XNK Phương Thùy, địa chỉ: 188 Tô Ký, tổ 13, khu phố 2, phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hàng Hải, Trần Xuân Đức, Bùi Đoàn Hùng, Bùi Đoàn Hậu, Vũ Văn Thanh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hàng H 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn H (Kh) 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn H 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Vũ Văn Th 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời gian chấp hành án phạt tù của các bị cáo được tính từ ngày các bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng là Ketamine (ký hiệu M1) có khối lượng 0,7685 gam; 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng là MDMA (ký hiệu M2) có khối lượng 0,2480 gam; 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 đĩa tròn bằng sứ; 01 vỏ bịch ny – lông được hàn kín một đầu.

* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 ống để sử dụng ma túy được làm bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 559948; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 171112.

* Trả cho chủ sở hữu gồm:

- Trả cho bị cáo Trần Xuân Đức: 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, có in chữ nổi Tran Xuan Duc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 910579; số tiền 2.609.000 (hai triệu sáu trăm lẻ chín nghìn) đồng.

-Trả cho bị cáo Nguyễn Hàng Hải: Số tiền 677.000 (sáu trăm bảy mươi bảy nghìn) đồng.

- Trả cho bị cáo Bùi Đoàn Hùng (Khương): 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 755705.

- Trả cho bị cáo Bùi Đoàn Hậu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 517581; số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

- trả cho bị cáo Vũ Văn Thanh: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số Imei: 182308; số tiền 705.000 (bảy trăm lẻ năm nghìn) đồng.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2020).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị Nguyễn Hàng H, Trần Xuân Đ, Bùi Đoàn H (Kh), Bùi Đoàn H, Vũ Văn Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Án hình sự sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ