- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đỗ Thanh T tàng trữ trái phép chất ma túy khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HS-ST. Ngày: 21-5-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà La Thị Hồng Gấm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Mai.
2. Bà Lý Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ Thanh T, sinh ngày 18/02/1993 tại tỉnh Đồng Nai.
Hộ khẩu thường trú: Ấp An Bình, xã Bình An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp An Viễng, xã Bình An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh H. Bị cáo là con lớn trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án: không
Tiền sự:
+ Ngày 09/5/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng (Quyết định số 78/QĐ-TA ngày 09/5/2016).
+ Ngày 30/7/2017 bị UBND phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 36/QĐ-XPVPHC ngày 30/7/2017)
+ Ngày 18/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng (Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 18/8/2017).
Bị bắt tạm giữ ngày 05/12/2019 và chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm: 2002 (vắng mặt).
Địa chỉ: Xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thanh T là người thường xuyên sử dụng ma túy. Để có ma túy sử dụng vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 04/12/2019, T dùng số 0909.503.514 điện thoại cho người phụ nữ tên Phúc (không rõ tên tuổi, địa chỉ) để hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy, Phúc đồng ý và hẹn T đến khu vực bệnh viện Đa khoa huyện Long Thành để Phúc bán ma tuý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 60H3 - 8047 đến khu vực bệnh viện Đa khoa huyện Long Thành gặp Phúc, được Phúc đưa cho T 01 gói ma tuý đá có kích thước 01cm x 04cm với giá 200.000 đồng, sau khi trả tiền và nhận ma tuý xong T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cổng công viên 3A xã An Phước, huyện Long Thành để đón Nguyễn Tấn L đi chơi internet. Đến 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi T và L đến đoạn đường Lê Duẩn rẽ vào tiệm internet Home thuộc khu Văn Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thì bị tổ tuần tra Công an thị trấn Long Thành tiến hành kiểm tra, phát hiện dưới yên xe mô tô do T điều khiển có 01 gói nylon bên trong chứa các tinh thể màu trắng không rõ hình, nghi là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành để xử lý.
Về vật chứng tạm giữ gồm: 01 gói nilon có kích thước 01cm x 04cm và 01 điện thoại di động Xiaomi có số thuê bao 0909.503.514, 01 xe mô tô biển số 60H3 - 8047.
Tại Bản kết luận giám định số 1573/KLGĐ-PC09 ngày 09/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,3157 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSLT ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo T từ 14 đến 18 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 1573/KLGĐ-PC09 ngày 09/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai. Tịch thu để sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Xiaomi, có số thuê bao 0909.503.514 đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Đối với 01 xe mô tô biển số 60H3 – 8047 Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nguồn gốc xe và xử lý sau.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Người làm chứng anh Nguyễn Tấn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, lời khai của anh L đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án; Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thanh T khai nhận: Lúc 23 giờ 50 phút ngày 04/12/2019, tại khu Văn Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Thanh T đã có hành vi tàng trữ 01 gói nylon màu trắng có kích thước 01cm x 04cm được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy tổng hợp, có trọng lượng là 0,3157gam, loại: Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang. Đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng chất ma túy, 02 lần được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo đã tái nghiện và tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với người phụ nữ tên Phúc (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Tấn L được T chở đi chơi internet và không biết việc Tùng tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 1573/KLGĐ-PC09 ngày 09/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai. Tịch thu nộp ngân nhà nước 01 điện thoại di động Xiaomi, có số thuê bao 0909.503.514 đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với 01 xe mô tô biển số 60H3 – 8047 Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nguồn gốc xe và xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 01(một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/12/2019.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 1573/KLGĐ-PC09 ngày 09/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai. Tịch thu nộp ngân nhà nước 01 điện thoại di động Xiaomi có số thuê bao 0909.503.514 đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. (Các vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Thành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2020).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Lê Văn Mai Lý Thị Bạch Tuyết | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA La Thị Hồng Gấm |