- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HS-ST Ngày 24-9-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mã Thị Kỳ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Mơ và ông Điểu Nhót.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Thái Lê Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:
Hoàng Văn T, sinh năm 2000, tại tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: Thôn 4, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L và bà Đàm Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: 01, Bản án số: 61/2018/HS-ST ngày 28-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 03 năm, hiện chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giữ từ ngày 09-6-2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay - Có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1964 – Vắng mặt;
Ông Lê Kỳ Q, sinh năm 1971 – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn 4, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn T là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 10 giờ ngày 09-6-2020, T bắt xe buýt đi từ ngã tư cầu 20 thuộc thôn 10, xã N, huyện Đ, đến khu vực gần Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, hỏi mua ma túy của đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch), thì T đồng ý. Tại đây, Hoàng Văn T đưa cho Tý số tiền 300.000đ rồi T đưa cho Hoàng Văn T 01 gói ni lông màu trắng hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Sau đó, Hoàng Văn T cho gói ma túy vào túi quần bên trái phía trước rồi bắt xe đi về nhà tại thôn 4, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Hoàng Văn T đang đứng trước nhà thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Song bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy trong túi quần bên phải (Hoàng Văn T tự nguyện giao nộp) và số tiền 500.000đ; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, 01 điện thoại di động Viettel màu đỏ đen có chứa sim điện thoại 0961567825 và sim điện thoại 0354473365. Sau đó, cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn T thu giữ 01 bình nhựa dưới gầm giường phòng ngủ của Hoàng Văn T (BL 25- 42).
Tại bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông ngày 17-6-2020, kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu trắng hàn được niêm phong trong bì thư gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,1654gam, là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định còn 0,0940gam (BL 20).
Cáo trạng số: 59/CT-VKS-ĐS ngày 09 tháng 9 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T mức hình phạt từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp 01 năm 06 tháng tù của bản án trước, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy 0,0940gam Methamphetamine thu giữ của Hoàng Văn T.
- Trả lại 01 điện thoại di động Iphone màu đen, cho Hoàng Văn T là điện thoại Hoàng Văn T không dùng vào việc phạm tội,
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Viettel màu đỏ đen, là điện thoại Hoàng Văn T dùng liên lạc để mua bán ma túy.
- Tạm giữ số tiền 500.000đ để đảm bảo việc thi hành án của bị cáo.
Bị cáo Hoàng Văn T đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song, không bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk Song, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Do ý thức xem thường pháp luật nên vào lúc 10 giờ ngày 09-6-2020, Hoàng Văn T đã liên lạc rồi đi đến khu vực Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, mua ma túy của đối tượng tên Tý (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 300.000 đồng. Sau đó, Hoàng Văn T đi về nhà tại thôn 4, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Song bắt quả tang thu giữ 0,1654 gam Methamphetamine cùng các tang vật khác. Do đó, đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
2. ...”
. Xét tính chất vụ án do bị cáo Hoàng Văn T gây ra là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nền trật tự trị an tại địa phương nơi bị cáo cư trú cũng như tình hình chung trong xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo đang trong thời gian thử thách của Bản án số: 61/2018/HS-ST ngày 28-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song. Do đó, cần chuyển 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo Bản án số: 61/2018/HS-ST ngày 28-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song bằng 01 năm 06 tháng tù giam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, bị cáo có ông Ngoại (Đàm Văn Hùng) là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh xác định bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với đối tượng tên Tý đã bán ma túy cho Hoàng Văn T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả nên chấp nhận việc Cơ quan điều tra tiếp tục thông báo truy tìm đối với đối tượng này, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với hành sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T, chấp nhận việc cơ quan Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền 750.000đ (BL 86).
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu hủy 0,0940gam Methamphetamine thu giữ của Hoàng Văn T còn lại sau giám định.
Trả lại 01 điện thoại di động Iphone màu đen, cho Hoàng Văn T là điện thoại Hoàng Văn T không dùng vào việc phạm tội,
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Viettel màu đỏ đen, là điện thoại Hoàng Văn T dùng liên lạc để mua bán ma túy.
Tạm giữ số tiền 500.000đ để đảm bảo việc thi hành án của bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù của Bản án số: 61/2018/HS-ST ngày 28-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (Ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 09-6-2020, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-8-2018 đến ngày 28-11-2018 (của bản án trước).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,0940gam Methamphetamine thu giữ của Hoàng Văn T còn lại sau giám định.
Trả lại 01 điện thoại di động Iphone màu đen, cho Hoàng Văn T là điện thoại Hoàng Văn T không dùng vào việc phạm tội,
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Viettel màu đỏ đen, là điện thoại Hoàng Văn T dùng liên lạc để mua bán ma túy.
Tạm giữ số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để đảm bảo việc thi hành án của bị cáo.
(Tất cả vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-9-2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Song và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Song).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV 27 CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - Công an huyện Đắk Song; - Chi cục THA DS huỵên Đắk Song; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, TA. | TM HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mã Thị Kỳ |