vanban.org

Bản án 59/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Thạch R.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch R được ly hôn với chị Danh Thị D. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung cháu Thạch Dan P (Nam), sinh ngày 14/01/2014 cho anh Thạch R trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Chị Danh Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Thạch R.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2020
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Triệu Khánh Long

2/ Bà Phạm Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Phân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2020/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2020, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68A/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28/8/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 14/9/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Thạch R, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 1, ấp 2, xã 3, thị xã 4, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Chị Danh Thị D, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 2, xã 3, thị xã 4, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/5/2020 cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Thạch R trình bày: Vào năm 2013, anh R kết hôn với chị Danh Thị D và được Ủy ban nhân dân xã 3 cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/01/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số nhà 1, ấp 2, xã 3, thị xã 4 được 02 năm thì anh R và chị D lên thành phố Hồ Chí Minh làm việc và sinh sống. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên là: Thạch Dan P (Nam), sinh ngày 14/01/2014. Do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình làm phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Từ ngày 08 tháng 02 năm 2017 chị D về nhà cha mẹ ruột tại ấp 2, xã 3, thị xã 4 cho đến nay.

Nay anh R nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hạnh phúc hôn nhân tan vỡ không thể hàn gắn được do đó yêu cầu Tòa giải quyết cho anh R được ly hôn với chị D; Về con chung: Anh R yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Thạch Dan P đến tuổi trưởng thành vì từ ngày 08 tháng 02 năm 2017 cho đến nay chị D đã bỏ con cho tới nay và do anh R nuôi dưỡng, anh R không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị D, nhưng chị D không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh R, đồng thời chị D cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu xác định: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn chị Danh Thị D, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị D vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị D theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh R được ly hôn với chị Danh Thị D vì trên thực tế cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại mục đích hôn nhân không đạt được; giao cho anh R trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Dan P, ghi nhận sự tự nguyện của anh R không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra xem xét, anh R phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh Thạch R khởi kiện, yêu cầu ly hôn với chị Danh Thị D. Yêu cầu của anh R được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Danh Thị D đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy chứng minh nhân dân, cũng như việc không phản đối của chị D; đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của anh R về việc kết hôn với chị D được Ủy ban nhân dân xã Lai Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/01/2013 là sự thật. Vì vậy, giữa anh R và chị D đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn làm cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Anh R và chị D đã không còn sống chung với nhau từ ngày 08 tháng 02 năm 2017. Từ đó cho đến nay, vợ chồng đã không còn liên lạc với nhau, không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Như vậy, anh R và chị D đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh R được ly hôn với chị D.

Về con chung: Anh R trình bày có 01 con chung tên Thạch Dan P (Nam), sinh ngày 14/01/2014, anh R yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy từ ngày anh R và chị D không còn chung sống với nhau thì cháu P do anh R trực tiếp nuôi dưỡng và để đảm bảo cuộc sống của cháu P không bị xáo trộn, ảnh hưởng đến tâm sinh lý khi cha mẹ ly hôn với nhau. Do đó yêu cầu của anh R là phù hợp với điều kiện chăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên và phù hợp với quy định của Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Thạch Dan P (Nam), sinh ngày 14/01/2014 cho anh Thạch R trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của anh R không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh R trình bày là không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Anh Thạch R phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng ) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Thạch R.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch R được ly hôn với chị Danh Thị D.

- Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung cháu Thạch Dan P (Nam), sinh ngày 14/01/2014 cho anh Thạch R trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Chị Danh Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Trong thời gian anh R nuôi dưỡng cháu P, không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con, anh R có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; chị D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy địnhu của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh R trình bày là không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Anh Thạch R phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền ứng án phí anh R đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số 0003863, ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, anh R đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Chị Danh Thị D không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ