- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn với anh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HNGĐ-ST Ngày: 21 – 8 – 2020 V/v tranh chấp HNGĐ Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Mai Hương
2. Ông Phạm Phước Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện CL xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ 11, ấp 1, xã ML, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ 11, ấp 1, xã ML, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm chị Trần Thị H là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh H chung sống với nhau từ năm 2000 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 02/11/2004. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, chơi cờ bạc và thường xuyên uống rượu. Chị H đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H vẫn không thay đổi. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn H Duy, sinh ngày 31/10/2001 và Nguyễn Thành Đạt, sinh ngày 22/3/2006. Hiện con chung Nguyễn Thành Đạt đang sống cùng chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thành Đạt, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Con chung Nguyễn H Duy đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Bị đơn là anh Nguyễn Thanh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
- Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính);
- 01 Trích lục khai sinh tên Nguyễn Thành Đạt (Bản sao);
- 01 Trích lục khai sinh tên Nguyễn H Duy (Bản sao);
- 01 Xác nhận nơi cư trú ngày 20/3/2020 của Công an xã ML (Bản chính);
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Trần Thị H có đơn yêu cầu được ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Thanh H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con”.
Anh Nguyễn Thanh H là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại huyện CL, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Thanh H là bị đơn trong vụ kiện nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của chị H. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Thanh H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H sống chung với nhau từ năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 02/11/2004, do đó hôn nhân giữa chị H và anh H là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vả với nhau do anh H không chăm lo làm ăn để lo cuộc sống gia đình và giáo dục con cái dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau. Chị H nhiều lần khuyên ngăn để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh H vẫn không sửa đổi.
Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Nguyễn Thanh H tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh H vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến hay biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H. Xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh H lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị H và anh H là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn H Duy, sinh ngày 31/10/2001 và Nguyễn Thành Đạt, sinh ngày 22/3/2006. Hiện con chung Nguyễn Thành Đạt đang sống cùng chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thành Đạt, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Do anh H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày. Do đó, để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu Thành Đạt, cần tiếp tục giao cháu Thành Đạt cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Nguyễn H Duy đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không có nợ chung, anh H không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
- Về con chung: Chị Trần Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thành Đạt, sinh ngày 22/3/2006, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không có yêu cầu. Con chung Nguyễn H Duy đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không có nợ chung, anh H không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003547 ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL. Như vậy tiền án phí đương sự đã nộp xong.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Ngọc Minh |