vanban.org

Bản án 59/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 16/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H.

Buộc anh Nguyễn Thành Ph trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 19.600.000 đồng (Mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành chưa thi hành án còn phải chịu khoản ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2020/DS-ST
Ngày 16/9/2020
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Long.

2. Bà Lê Thị Thu Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 142/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-DS ngày 03/8/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1983.

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành Ph, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: 230/16 Ấp B, xã Tr, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 17/6/2020 của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thúy H đều trình bày: Vào ngày 16/12/2019 chị có cho anh Nguyễn Thành Ph mượn số tiền 19.600.000 đồng, có làm hợp đồng cho mượn tiền, thỏa thuận thời gian trả là 30 ngày kể từ ngày 16/12/2019 và anh Ph đã nhận đủ tiền. Tuy nhiên, đến thời hạn trả tiền anh Ph không trả tiền cho chị, nên chị Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Thành Ph trả cho chị số tiền 19.600.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,5%/tháng kể từ ngày 17/01/2020 đến ngày Tòa xét xử, tạm tính đến ngày 17/06/2020 là 294.000 đồng x 5 tháng= 1.470.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 21.070.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 03/8/2020 và tại phiên tòa sơ thẩm phía chị Nguyễn Thị Thúy H thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị H chỉ yêu cầu anh Nguyễn Thành Ph trả cho chị H số tiền vốn gốc 19.600.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

- Bị đơn anh Nguyễn Thành Ph đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh Nguyễn Thành Ph vẫn không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Anh Nguyễn Thành Ph đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thành Ph.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu anh Nguyễn Thành Ph trả cho chị số tiền 19.600.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 16/12/2019. Anh Nguyễn Thành Ph thì không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H. Theo giấy mượn tiền ngày 16/12/2019 thể hiện: Bên A chị Nguyễn Thị Thúy H có cho bên B anh Nguyễn Thành Ph mượn số tiền 19.600.000 đồng, thời gian trả là 30 ngày kể từ 16/12/2019, bên B đã nhận tiền. Như vậy, Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu trả anh Nguyễn Thành Ph trả cho chị H số tiền 19.600.000 đồng là có cơ sở, phù hợp qui định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H, buộc anh Nguyễn Thành Ph có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 19.600.000 đồng.

Về tiền lãi chậm trả: Tại phiên tòa sơ thẩm, phía chị Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu, nên không Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu trả anh Nguyễn Thành Ph số tiền 19.600.000 đồng, được Tòa án chấp nhận, nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh Nguyễn Thành Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 980.000 đồng (19.600.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H.

Buộc anh Nguyễn Thành Ph trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 19.600.000 đồng (Mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành chưa thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí: Anh Nguyễn Thành Ph phải chịu 980.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hòan lại cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 526.750 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu số 0001607 ngày 17/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

Chị Nguyễn Thị Thúy H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thành Ph vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ