- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lâm Kim Hoàng - Phan Thị Thuận"
- Tòa quyết gì? 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/DS-PT Ngày 24-3-2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Loan
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Việt Trung
Ông Nguyễn Thành Lập
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hạnh Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê
Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2020/TLPT-DS ngày 21 tháng 02 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2020/QĐ-PT ngày 04 tháng 3
năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lâm Kim H, sinh năm 1960 (có mặt).
Trú tại: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh C ..
Bị đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1963 (có mặt).
Trú tại: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh C ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1964 (vắng mặt).
2. Bà Huỳnh Thị D (vắng mặt).
Cùng trú tại: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh C ..
Do có kháng cáo của: Bị đơn là bà Phan Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, bà Lâm Kim H trình bày:
Trước đây bà có cho bà Trần Thị Cẩn và bà Phan Thị T (bà Cẩn là mẹ chồng
bà T) vay vàng của bà nhiều lần. Đến ngày 15 tháng 02 năm 1992 (âl), bà Cẩn và bà T còn nợ bà tổng số 12 chỉ vàng 24k. Năm 2004, ông Linh là con rể bà T đã trả cho bà được 02 chỉ vàng 24k, còn lại 10 chỉ vàng 24k đến nay không trả. Hiện nay bà Cẩn đã qua đời nên bà yêu cầu bà T phải trả cho bà 10 chỉ vàng 24k.
Bị đơn, bà Phan Thị T trình bày:
Bà Cẩn là mẹ chồng của bà có vay vàng của bà H hay không bà không biết,
còn bà thì không có vay vàng của bà H. Tại phiên hòa giải ở địa phương năm 2019, bà có ký tên đồng ý trả 05 chỉ vàng 24k cho bà H là do nghe người khác nói nếu không trả thì bà Cẩn mang tội nên bà đồng ý trả 05 chỉ vàng 24 k cho bà H. Nay bà không đồng ý trả vàng theo yêu cầu của bà H vì bà không có vay vàng của bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Kim H. Buộc bà Phan
Thị T có trách nhiệm trả cho bà Lâm Kim H 05 (năm) chỉ vàng 24k. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Kim H kiện đòi bà Phan Thị T trả 05 chỉ vàng 24k.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/01/2020 bị đơn là bà Phan Thị T kháng cáo không đồng ý trả cho
bà H 05 chỉ vàng 24k.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận
cho rằng do bà H không có biên nhận vay tiền do bà T và bà Cẩn ký tên nên bà T không đồng ý trả vàng cho bà H.
Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Phan Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T không
thừa nhận có cùng bà Cẩn là mẹ bà T vay vàng của bà H. Bà H cũng thừa nhận khi bà cho bà Cẩn và bà T vay vàng hai bên cũng không có làm biên nhận, kể cả khi ông Linh trả cho bà H 02 chỉ vàng 24k bà H cũng không có làm biên nhận cho ông Linh. Tuy nhiên tại hồ sơ thể hiện việc bà T và bà Cẩn còn nợ của bà H 10 chỉ vàng 24 k có bà Ngô Ngọc P2 và bà Lâm Mỹ P1 nghe bà H nói lại, đồng thời tại biên bản hòa giải ngày 07/7/2019 của chính quyền địa phương ấp sào lưới B, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thì bà T đồng ý trả cho bà H 05 chỉ vàng 24k và xin được trả trong thời gian 06 tháng. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bà T trả cho bà H 05 chỉ vàng 24k là phù hợp. Hiện nay bà T kháng cáo không đồng ý trả cho bà H 05 chỉ vàng 24k và yêu cầu bà H phải cung cấp biên nhận vay vàng do bà T hoặc bà Cẩn ký tên thì bà T mới đồng ý trả là không có cơ sở. Đối với bà Huỳnh Thị D, bà T cho rằng bà D là người biết bà T không có vay vàng của bà H nên bà D không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T không có chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù
hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của bà T nên bà T
phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án
nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Kim H.
Buộc bà Phan Thị T có trách nhiệm trả cho bà Lâm Kim H 05 (năm) chỉ
vàng 24k.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Kim H kiện đòi bà Phan Thị T trả 05
chỉ vàng 24k.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu án phí số tiền 1.045.000
đồng (chưa nộp). Bà Lâm Kim H phải chịu 1.045.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà H có nộp tạm ứng số tiền 965.000 đồng tại biên lai số 0003435 ngày 16 tháng 7 năm 2019, được chuyển thu đối trừ, còn phải nộp tiếp số tiền 80.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng, ngày
30/01/2020 bà T đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003175 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Trung Nguyễn Thành Lập
Bùi Thị Phương Loan
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Phương Loan |