vanban.org

Bản án 59/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 21/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Quang H 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 11/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang H "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 59/2019/HS-ST
Ngày 21-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bẩy.

2. Ông Bùi Quốc Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Duyện - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2019/QĐXXST ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Quang H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/02/1993;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (nơi cư trú hiện nay): Thôn X, xã Y, huyện M, Thành phố Hà Nội;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Con ông: Phạm Văn H sinh năm 1972; con bà: Trương Thị M sinh năm: 1973;

Đều trú tại: Thôn X, xã Y, huyện M, Thành phố Hà Nội;

Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/4/2019 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1/ Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn H, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

2/ Anh Nguyễn Hồng N, sinh năm 1961; Địa chỉ: thôn T, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 11/4/2019, Tổ công tác Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường tỉnh lộ 236, thuộc địa phận thôn T, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh có ra hiệu lệnh dừng và kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 655.20 do Phạm Quang H điều khiển hướng Tràng An đi Bình Khê thì phát hiện bắt quả tang H có hành vi cất giấu ở phía trong quần lót đang mặc 03 (ba) túi nilon có đặc điểm như sau:

01 (một) túi nilon kích thước (8 x 5) cm, bên trong có 10 (mười) viên nén hình đa giác màu xanh có kích thước (1 x 1) cm ký hiệu M1 và 04 (bốn) túi nilon cùng kích thước (2,5 x 02) cm, bên trong 04 túi này đều có chất tinh thể màu trắng ký hiệu từ M2 đến M5.

01 (một) túi nilon kích thước (8 x 5) cm, bên trong có 11 (mười một) túi nilon cùng kích thước (2,5 x 02) cm, bên trong 11 túi này đều có chất tinh thể màu trắng ký hiệu từ M6 đến M16.

01 (một) túi nilon kích thước (10 x 6) cm, bên trong có 19 (mười chín) viên nén hình đa giác màu xanh có kích thước (0,9 x 1,1) cm ký hiệu M17 và 05 (năm) viên nén hình đa giác màu xanh cùng kích thước (1 x 1) cm ký hiệu M18; 01 (một) viên nén hình đa giác màu xanh kích thước (1,3 x 1, 1) cm ký hiệu M19 và nhiều mảnh vỡ của các viên nén ký hiệu M20.

Tại bản kết luận giám định số 315/GĐMT ngày 16/4/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:

Ký hiệu M1, M18, M19, M20 đều là ma túy, loại MDMA, khối lượng như sau:

+ M1: 4,797gam (bốn phẩy bẩy chín bẩy gam).

+ M18: 2,468 gam (hai phẩy bốn sáu tám gam).

+ M19: 0,502 gam (không phẩy năm không hai gam).

+ M20: 1,858 gam (một phẩy tám năm tám gam).

- M2 đến M16 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng như sau:

+ M2 đến M5 có khối lượng 1,272 gam (một phẩy hai bảy hai gam).

+ M6 đến M16 có khối lượng 3,711gam (ba phẩy bẩy một một gam).

Mẫu vật M17 có khối lượng 7,517 gam (bảy phẩy năm mười bảy gam) vượt khả năng chuyên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều đã trưng cầu giám định Viện khoa học hình sự - Bộ Công an.

Tại bản kết luận giám định số 2172/C09 - TT2 ngày 07/5/2019, của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Mẫu vật các viên nén hình đa giác màu xanh ký hiệu M17 gửi giám định là ma túy, loại: MDMA, Ketamine.

(MDMA nằm trong danh mục IB, STT: 27; Ketamine nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Phạm Quang H khai nhận: Tối ngày 10/4/2019, H gặp một người tên C (không rõ địa chỉ lai lịch) tại phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và được C rủ đến quán Karaoke G, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể) để sinh nhật Cường. H gửi xe mô tô tại phường M, thị xã Đ rồi thuê xe tắc xi đến chỗ C hẹn. Khi vào quán hát H thấy có C và nhiều thanh niên (không quen biết) đang sử dụng ma túy, nên H sử dụng cùng mọi người. Đến khoảng 4 giờ ngày 11/4/2019, H chuẩn bị về nhà thì thấy ở trên bàn tại phòng hát có 03 (ba) túi nilon bên trong có nhiều túi nilon nhỏ chứa chất tinh thể mầu trắng và các viên nén, do nghiện ma túy H biết đó là ma túy nên đã lấy và cất giấu vào bên trong quần lót mục đích mang về để sử dụng. Khi H về đến phường M lấy xe mô tô đi về nhà trọ ở thôn T, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, thì bị bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-ĐH ngày 08 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Quang H từ 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng đến 6 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 11/4/2019; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị trả lại bị cáo 02 (hai) điện thoại di động nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra đều hợp pháp và đúng trình tự tố tụng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quang H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Nguồn gốc số ma túy H tàng trữ là do H lấy được tại phòng hát Karaoke khi đi dự sinh nhật bạn. Kết hợp với lời khai của những người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ, bản ảnh hiện trường; biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 8 giờ ngày 11/4/2019, tại thôn T, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Quang H có hành vi tàng trữ trái phép 03 (ba) túi nilon chất ma túy, loại MDMA, Ketamine tổng khối lượng là 22,125 gam (hai hai phẩy một bốn gam); Trong đó MDMA có khối lượng 9,625 gam (chín phẩy sáu ba sáu gam), Ketamine có khối lượng 4,983 gam (bốn phẩy chín tám ba gam) và MDMA, Ketamine có khối lượng 7,517 gam (bẩy phẩy năm mười bẩy gam) nhằm mục đích sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện. Bị cáo là người đã trưởng thành. Mặc dù nhận thức được đầy đủ tác hại của ma túy nhưng bị cáo Phạm Quang H vẫn cố tình thực hiện hành tàng trữ ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi đó đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 - Điều 249- Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2, Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này”.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố bị cáo ra xét xử trước Tòa án theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo ý nghĩa giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án:

- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 655.20, H khai mua của một người không quen biết với giá 7.000.000đ (bẩy triệu đồng) trước đó 02 tháng. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Đào Thị N, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang bị mất ngày 16/02/2019, nên ngày 21/5/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tiếp nhận để xử lý theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

- 02 (hai) chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo (01 điện thoại di động Nokia 105 và 01 điện thoại di động Iphone 6) không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác: Theo lời khai của H đối tượng tên C là người rủ H đến quán G, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh sử dụng ma túy, quá điều tra không xác định được địa chỉ, lý lịch, nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang H 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 11/4/2019.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định (phong bì số 325/GĐMT và phong bì số 2172/C09 - TT2).

- Trả lại cho bị cáo Phạm Quang H 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 và 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 57 ngày 24/5/2019 giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Buộc Phạm Quang H phải chịu 200.000 (hai trăm) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ