vanban.org

Bản án 59/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phú Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T:

Xử phạt bị cáo Phú Thanh H 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phú Thanh H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phú Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2019/HS-PT
Ngày 18-3-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Các Thẩm phán:

Ông Lê Quân Vương;

Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 42/2019/TLPT-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Phú Thanh H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T.

Họ và tên bị cáo có kháng cáo:

Phú Thanh H, sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (không rõ năm sinh) và bà Phú Thị Ngọc S, sinh năm 1960; có vợ là Trương Thúy D, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và có 02 người con (cùng sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo, 02 người đại diện hợp pháp của bị hại, 01 bị đơn dân sự và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phú Thanh H và Trần Quốc H2 là nhân viên của Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng T (gọi tắt là Công ty T), có trụ sở tại Khu Công nghiệp N, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. H làm công việc phụ bơm cần bê tông và không có giấy phép lái xe ôtô theo quy định, H2 có giấy phép lái xe ôtô hạng C số 720164000431 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Tây Ninh cấp ngày 25/01/2016, có giá trị đến ngày 25/01/2021. H2 được ông Ông Quang A (là quản lý xe và điều động xe của Công ty T) giao làm tài xế và quản lý xe ô tô cần bơm bê tông biển số 60C-105.X, việc giao xe ô tô cho H2 có lập biên bản.

Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 13/4/2018, H2 được giao nhiệm vụ lái xe ô tô cần bơm bê tông biển số 60C-105.X đi làm công trình tại Khu Công nghiệp Đ thuộc xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương nhưng H2 không điều xe mà giao cho H điều khiển. H2 biết H không có giấy phép lái xe theo quy định. Sau khi giao xe ô tô cho H điều khiển, H2 ngồi bên ghế phụ của xe ô tô còn H điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường ĐT X theo hướng từ vòng xoay K về ngã tư Lô X. Khi lưu thông đến ngã tư Lô X đoạn giao nhau giữa đường ĐT X và đường ĐT Y thuộc khu phố X, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương, H điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải về hướng phường U, do không chú ý quan sát nên khi chuyển hướng rẽ phải thì cản trước đầu xe ô tô va chạm vào phần phía sau xe mô tô biển số 83H1- 80Y do ông Trần Thế H1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông H1 chết tại hiện trường, xe mô tô bị hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra tai nạn là ngã tư, mặt đường trải nhựa, phẳng, chiều rộng mặt đường từ xã H về phường U rộng 18m, mặt đường hướng vòng xoay K về ngã tư Lô X là 20m; mặt đường hướng từ Khu Công nghiệp N mở rộng về ngã tư Lô X rộng 16m, tầm nhìn rộng, không hạn chế vòng xoay K, không có vật cản đường, có tín hiệu đèn giao thông. Chọn mép lề phải hướng vòng xoay K về phường U làm chuẩn; điểm va chạm của hai xe đo vào mép lề phải là 8,7m, đo vào đầu vết cày xe mô tô 83H1-80Y là 1,2m.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiến hành tạm giữ: Xe ô tô cần bơm bê tông biển số 60C – 105X và giấy chứng nhận kiểm định; xe mô tô biển số 83H1 – 80Y.

Bản kết luận giám định tử thi số 267/PC54 - GĐPY ngày 16/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Trần Thế H1 là do đa chấn thương, chấn thương sọ não.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phú Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phú Thanh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Quốc H2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/12/2018, bị cáo Phú Thanh H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe gây hậu quả nghiêm trọng. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác, nhằm đáp ứng tình hình đấu tranh tội phạm về tham gia giao thông đang diễn biến phức tạp như hiện nay, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo về chăm lo cho con và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 13/4/2018, tại đoạn đường thuộc ngã tư Lô X, đoạn giao nhau giữa đường ĐT X và đường ĐT Y thuộc khu phố X, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Phú Thanh H điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải về hướng phường U, do không chú ý quan sát nên cản trước đầu xe ô tô do bị cáo điều khiển đã va chạm vào phần phía sau xe mô tô do bị hại Trần Thế H1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả làm bị hại H1 tử vong tại hiện trường, xe mô tô bị hư hỏng. Kết luận giám định tử thi xác định nguyên nhân tử vong của bị hại H1 là do đa chấn thương, chấn thương sọ não.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe, chuyển hướng xe không chú ý quan sát là vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ, hậu quả gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại. Đồng thời, gây tâm lý bất an cho những người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình an toàn giao thông đường bộ tại địa phương, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Đối với tình tiết bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn vợ, nuôi 02 con nhỏ và mẹ già, là lao động chính trong gia đình, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là chưa đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo là thiếu sót. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe thể hiện ý thức xem thường pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, việc bị cáo không chấp hành hình phạt tù sẽ gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương, đặc biệt là tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đang gia tăng tại các khu dân cư trên địa bàn thị xã T nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Như vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng án treo đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp.

. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phú Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phú Thanh H 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phú Thanh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ