- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh La Văn Đ - Anh Đào Hoài T và chị Nguyễn Thị M"
- Tòa quyết gì? anh Đào Hoài T, chị Nguyễn Thị M
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2019/DS-ST Ngày 12-12-2019 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Lệ Hoa
2. Ông Lê Bình Triệu
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi là Thư ký Tòa án của Toà án
nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình: Ông Võ Hồng Quân
– Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2019/TLST – DS ngày 12 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXX - ST ngày 07 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh La Văn Đ (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Đào Hoài T và chị Nguyễn Thị M (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 8 năm 2019 và trong quá trình giải quyết
vụ án nguyên đơn La Văn Đ trình bày:
Ngày 20/12/2018 âm lịch, anh có cho vợ chồng anh T và chị M vay số tiền
50.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, anh T, chị M thanh toán lãi được hai tháng với số tiền là 5.000.000 đồng. Đến nay anh T, chị M hứa nhiều lần nhưng không thanh toán vốn và lãi cho anh Đ nên anh Đ yêu cầu vợ chồng anh T và chị M thanh toán cho anh số tiền vốn 50.000.000 đồng, anh không yêu cầu tính lãi.
Anh Đào Hoài T trình bày:
Anh thừa nhận tháng 12/2018 anh có vay của anh Đ số tiền 50.000.000 đồng,
anh đã thanh toán đủ tiền lãi cho anh Đ theo thỏa thuận. Mục đích vay tiền nhằm sử dụng trong gia đình nên vợ anh là chị M biết việc anh vay tiền của anh Đ, chị M không có ý kiến gì. Nay anh thống nhất thanh toán cho anh Đ số tiền 50.000.000 đồng. Vì đi làm ăn xa nên anh T xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên
họp cho chị Nguyễn Thị M nhưng chị không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đ về việc yêu cầu anh T, chị M thanh toán nợ vay. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch anh T, chị M phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự, việc tranh chấp giữa các đương sự nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Anh T, chị M được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ
thẩm lần thứ hai, anh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn chị M vắng mặt không có lý do căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
Anh Đ khởi kiện anh T, chị M để yêu cầu trả lại cho anh số tiền vay. Vì vậy
quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Về nội dung tranh chấp:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Giao dịch vay tiền
giữa anh Đ với anh T, chị M thực tế có xảy ra, được anh T thừa nhận. Mục đích vay tiền là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của gia đình, vợ anh T là chị M biết việc vay tiền này. Tại biên bản ghi lời khai ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình anh T hứa thanh toán cho anh Đ nhưng anh không thực hiện. Vì vậy, anh T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên cần buộc anh T, chị M thanh toán cho anh Đ số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)
Trường hợp anh T, chị M chậm thanh toán thì phải chịu lãi theo khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Các vấn đề khác:
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Đ không phải chịu án phí, số
tiền anh nộp tạm ứng án phí được nhận lại. Anh T, chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt
anh Đào Hoài T, chị Nguyễn Thị M
Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đ về việc yêu cầu anh T,
chị M thanh toán nợ vay. Buộc anh T, chị M có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho anh Đ số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Trường hợp anh T, chị M chậm thanh toán số tiền trên cho anh Đ thì phải
chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh T, chị M phải chịu số tiền
2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Anh Đ không phải chịu án phí, ngày 06-8-2019 anh Đ nộp tạm ứng án phí 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0010599 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Anh Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh
T, chị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKS huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |