vanban.org

Bản án 59/2018/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tô Minh P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Minh P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 59/2018/HSST
Ngày: 25-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Lợi.

2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2018/HSST ngày 10/9/2018 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 84/2018/QĐX XST-HS ngày 10/9/2018 đối với bị cáo:

Tô Minh P, giới tính: Nam; sinh năm: 1981 tại Bến Tre; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 39/27/5 đường A, khu phố B, phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Như trên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Tô Phước T, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1956; có vợ Trần Thúy V sinh năm 1988, có 04 con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 1/ Ngày 25/01/1998, Công an Quận 2 bắt về hành vi Cướp giật tài sản, Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 09 tháng tù. 2/ Ngày 11/03/1999, Công an Quận 12 bắt về hành vi Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 12 tháng tù. 3/ Ngày 15/12/2001, Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bắt về hành vi cướp giật tài sản, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/5/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 20/5/2018, Công an phường An Phú, Quận 2 mời Tô Minh P về trụ sở để làm việc vì có liên quan đến vụ cướp giật tài sản tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra người P thì P hiện trong túi quần phía trước bên trái của P có 01 gói nylon hàn kín, chứa tinh thể không màu. P khai nhận đó là ma túy đá P mua của một người đàn ông chưa rõ lai lịch, khoảng 40 tuổi, tại khu vực đường Hoàng Diệu, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 500.000 đồng vào tối ngày 19/5/2018, đến ngày 20/5/2018, P đến bãi đất trống trên đường Nguyễn Hoàng, phường An Phú, Quận 2 sử dụng hết một phần ma túy đã mua, phần còn lại cất giấu trong người thì Công an phường An Phú, Quận 2 mời về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an Quận 2 Tô Minh P khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu ở trên.

Vâ ̣t chứ ng thu giữ: 01 mũ vải, dạng lưỡi trai màu xanh; 01 dao rọc giấy, 01 dao bấm; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.

Theo Kết luận giám định số 893 ngày 24/5/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự

- Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì tinh thể rắn không màu thu giữ của P là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6458g.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác. Đối với việc xử lý vật chứng của vụ án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật và không có ý kiến gì thêm.

Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Tô Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Đây là vụ án do Tô Minh P đã có hành vi mua ma túy của người khác về tàng trữ trái phép với mục đích để sử dụng, có khối lượng 0,6458g loại Methamphetamine, do đó hành vi của Tô Minh P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, là lao động chính, nuôi 04 con nhỏ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Tô Minh P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng:

Bị cáo P: Bị cáo biết lỗi bị cáo rất ăn năn, bị cáo hứa sẽ không tái phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,6458g loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt giữ quả tang cùng tang vật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định ... và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên.

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Bản thân bị cáo là công dân, biết rất rõ tác hại của ma tuý và đường lối xử lý của pháp luật. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng phát triển, là nguyên nhân P sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về các tội danh xâm phạm quyền sở hữu tài sản nay vẫn tiếp tục phạm tội mới, chứng tỏ ý thức cải tạo bản thân rất kém. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng chống tội phạm trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:

Bị cáo không có tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nên chỉ bị xử phạt ở khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện là lao động chính, nuôi 04 con nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng:

- 01 gói được niêm phong có mã vụ 893/2018Q2: Bên ngoài có chữ ký ghi tên Tô Minh P có hình dấu Công an phường An Phú, Quận 2. Bên trong có một gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6458 gram; khối lượng còn lại sau giám định là 0,5759 gram; 01 mũ vải, dạng lưỡi trai màu xanh; 01 dao rọc giấy, 01 dao bấm. Xét đây là tang vật của vụ án là chất cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tô Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Tô Minh P 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong có mã vụ 893/2018Q2: Bên ngoài có chữ ký ghi tên Tô Minh P có hình dấu Công an phường An Phú, Quận 2. Bên trong có một gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6458 gram; khối lượng còn lại sau giám định là 0,5759 gram; 01 mũ vải, dạng lưỡi trai màu xanh; 01 dao rọc giấy, 01 dao bấm.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKS ngày 21/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ