- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2018/HSST Ngày 06/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Văn Quang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Hòa và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Dương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 054/2018/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Nà A, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hà Văn T và bà Lưu Thị D; có vợ là Đinh Thị H và có 01 con, sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; bị giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2017 đến nay. Có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1979, trú tại tiểu khu xx, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn T là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là bình ắc quy xe ô tô. Hà Văn T chuẩn bị công cụ để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc kìm và 01 cờ lê. Khoảng 17 giờ ngày 31/10/2017, T đi bộ từ nhà ở Bản Nà A, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La đến khu vực bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, Hà Văn T đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Hê rô in với giá 50.000đồng. Sau khi mua được hê rô in Hà Văn T cất giấu vào trong người rồi xin đi nhờ xe máy của một người không quen biết lên thị trấn Nông trường Mộc Châu. Khoảng 01 giờ ngày 01/11/2017 Hà Văn T đi bộ đến tiểu khu B, thị trấn N thì thấy 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI BKS 88C – 003.82 của anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1979, trú tại tiểu khu xx, thị trấn N đang đỗ ở lề đường. Hà Văn T đã dùng kìm và cờ lê tháo ốc bắt giữ bình ắc quy để lấy trộm bình ắc quy, khi Hà Văn T vừa tháo rời được 01 ốc vít thì bị Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện bắt quả tang. Ngay lúc đó Hà Văn T tự giác lấy 01 gói hê rô in cất giấu trong người ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành bắt người có hành vi phạm tội quả tang thu giữ 01 chiếc kìm, 01 cờ lê, 01 chiếc ốc, 01 chiếc đai ốc, 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu TIGER BATTERY N200, MADEIN Thái Lan loại 12v, 200HA và 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng bột màu trắng nghi là Hê rô in.
Quá trình bắt giữ Hà Văn T khai nhận 01 gói cục bột mầu trắng là Hêrôin của Hà Văn T mua của một người dân tộc Mông không quen biết ở đường dân sinh bản P, xã V, huyện V mục đích để sử dụng.
Ngày 01/11/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng số chất bột màu trắng nghi là Hêrôin thu giữ của Hà Văn T được tổng trọng lượng 0,12 gam; lấy 0,06 gam để làm mẫu trưng cầu giám định, xác định có phải là chất ma túy không, loại ma túy gì, trọng lượng (Khối lượng) của mẫu giám định là bao nhiêu, mẫu ký hiệu “T”.
Tại kết luận giám định số 14/KLMT ngày 24/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “ Mẫu gửi giám định ký hiệu T là chất ma túy; loại chất Hêrôin, trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 0,12 gam; loại chất Hêrôin”.
Ngày 02/11/2017 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Mộc Châu đã tiến hành định giá 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu TIGER BATTERY N200, MADEIN Thái Lan loại 12v, 200HA có giá trị là 3.300.000đồng. Ngày 22/11/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã giao trả lại cho anh Nguyễn Hồng Q 01 chiếc bình ắc quy, 01 bu lông và 01 chiếc đai ốc cho anh Nguyễn Hồng Q quản lý, sử dụng. Anh Nguyễn Hồng Q không yêu cầu Hà Văn T bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 18/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã truy tố bị cáo với nội dung: Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mộc Châu để xét xử đối với bị can Hà Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 nay là điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu ý kiến, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội trộm cắp tài sản và áp dụng các căn cứ pháp luật để xử phạt đối với bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 18 đến 21 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 06 đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999, khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,06 gam Hêrôin cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng đã truy tố cũng như nội dung bản luận tội, bị cáo không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Hà Văn T giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 01 giờ 40 phút ngày 01 tháng 11 năm 2017; phù hợp với vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 01/11/2017 bị cáo Hà Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam Hê rô in mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm nay là điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt tù từ một năm đến năm năm. Cùng ngày lợi dụng sơ hở trong việc trông coi tài sản Hà Văn T đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc bình ắc quy của anh Nguyễn Hồng Q nhằm bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Hành vi trên của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 có mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do bản thân nghiện ma túy và do mục đích tư lợi, lười lao động muốn được hưởng lợi từ thành quả lao động của người khác, nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, hành vi trộm cắp của bị cáo làm ảnh hưởng đến tài sản của người khác, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi trộm cắp tài sản ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng có tiền án về tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt đã được trao trả lại cho chủ sở hữu. Do đó cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, là đối tượng nghiện chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với 01 chiếc bình ắc quy, 01 bu lông và 01 chiếc đai ốc Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã trao trả cho anh Nguyễn Hồng Q quản lý, sử dụng. Anh Nguyễn Hồng Q không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xem xét, xử lý.
Về vật chứng của vụ án. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,06 gam Hêrôin cùng vỏ gói niêm phong ban đầu là vật nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng, xét cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, do bị cáo không biết tên và địa chỉ, Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội trộm cắp tài sản.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 21 (Hai mốt) tháng tù; về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 09 (Chín) tháng tù; về tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hà Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 (Ba mươi) tháng tù;
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/11/2017.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,06 gam Hêrôin cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mộc Châu; - Viện KSND tỉnh Sơn La; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS Mộc Châu; - Trại giam; - THA H/S; - Người bị hại; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Triệu Văn Quang |