vanban.org

Bản án 59/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 17/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trung Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đỗ Trung Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Trung Th và Dương Thu Ph tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trung Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QuËn b¾c TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2018/HSST
Ngày 17/5/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN quËn b¾c TỪ LIÊM, TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Thế Vinh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hạnh;

2. Ông Nguyễn Tạo Giáp.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17/5/2018, Trụ sở Tòa án nhân dân, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 71/2018/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Trung Th, sinh năm 1963

Nơi ĐKHKTT: phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Đỗ Trọng L, sinh năm 1939 (đã chết) và con bà: Đỗ Thị L, sinh năm 1942; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1967 (đã ly hôn), có 01 con (sinh năm 1988).

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

+ Nhân thân về tiền sự:

Tháng 06/2010, Công an phường Cống Vị bắt, xử lý hành chính Đỗ Trung Th về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Biên bản xác minh ngày 13/3/2018 tại Công an phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thể hiện: ngày 20/6/2010, Công an phường Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội đã xử lý hành chính đối với Đỗ Trung Th về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không rõ hình thức xử lý (đã hết thời hiệu).

Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 2046/QĐ-UBND ngày 21/9/2010 của UBND quận Ba Đình. Biên bản xác minh ngày 27/2/2018 tại phòng lao động thương binh xã hội quận Ba Đình thể hiện: ngày 21/9/2010, UBND quận Ba Đình ra Quyết định cai nghiện bắt buộc số 20146 đối với Đỗ Trung Th, hiện nay chưa thi hành, lý do có đơn bảo lãnh của gia đình và Th tự nguyện uống thuốc Methadol cai nghiện.

Nhân thân về tiền án:

- Bản án số 316 ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử 42 tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 03/4/2014. Biên bản xác minh ngày 28/2/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình thể hiện: Chi cục Thi hành án đã ra Quyết định thi hành án số 190 ngày 03/1/2012, bị án Th phải thi hành khoản án phí HSST 200.000 đồng, bị án đã thi hành tại biên lai 1543 ngày 26/9/2016 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/1/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ tên: Dƣơng Thu Ph, sinh năm 1975 (Tên gọi khác: Dương Yến Ng, Dương Thị Th).

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã A, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nơi ở: không có nơi cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12 ;Con ông: Dương Văn Đ (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1921; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 5; có 01 con (sinh năm 1993).

Tiền án, tiền sự: không.

Địa phương nhận xét: năm 2007, bị cáo đổi tên từ Dương Thị Th là Dương Thu Ph (có làm thủ tục pháp lý), hiện nay đã cắt hộ khẩu tại xã A, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/1/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 1983; Nơi đăng ký HKTT: Phường X, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Đỗ Thăng L, sinh năm 1988; Nơi đăng ký HKTT: phường N, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy và cần tiền để mua ma túy về sử dụng nên khoảng ngày 26, 27/1/2018, Đỗ Trung Th đến khu vực đường Bưởi, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội mua 01 gói ma túy của một người đàn ông tên “L” (không xác định được lai lịch, địa chỉ) với giá 2.100.000 đồng về để chia nhỏ vừa bán, vừa sử dụng. Dương Thu Ph và Đỗ Trung Th có quan hệ tình cảm được khoảng 03 tháng. Sau khi mua được ma túy, Th đi cùng Ph đến thuê phòng 101 nhà nghỉ H, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, T.P Hà Nội chia nhỏ thành 19 gói, Th đã sử dụng hết 01 gói. Khi Th chia ma túy, Ph đi ra ngoài nên không biết.

Khoảng ngày 26, 27/1/2018, Nguyễn Tiến M đã nhiều lần gọi từ số điện thoại 016487563** đến số 0164307196* của Th hỏi Th có bán ma túy không và Th nói đang ở xa nên không bán. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/01/2018, Đỗ Trung Th điều khiển xe máy Honda Wave BKS 29B1 – 503.5* chở Dương Thu Ph đến Trung tâm y tế quận Nam Từ Liêm để Th uống Methadon. Khi uống thuốc xong, trên đường về M gọi điện thoại cho Th, do Th đang lái xe nên đã đưa điện thoại cho Ph nghe. M hỏi “chị là ai? Đây có phải số điện thoại của anh Th không?” Ph nói “tôi là bạn gái của anh Th, anh Th đang lái xe?”. M hỏi “anh chị đang ở đâu?”. Ph trả lời “đang ở gần khu vực Nghĩa trang Mai Dịch”. Th bảo Ph hỏi người đang gọi là ai, đang ở đâu? Phhỏi thì M trả lời là đang ở đầu ngõ 180 đường Hoàng Quốc Việt, phường Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Th bảo Ph nói với M “ bảo nó chờ ở đấy rồi anh qua”. Sau đó, Th chở Ph đến ngõ 180 Hoàng Quốc Việt, Th dừng xe ở đầu ngõ, xuống xe và dúi vào túi áo bên phải của Ph 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có 16 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng; đưa vào tay trái của Ph 01 gói giấy nhỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin để bảo Ph cầm hộ. Ph đút gói ma túy Th đưa vào túi áo trái của Ph, còn Th cầm 01 gói ma túy đến gặp M. Th đi vào trong ngõ gặp M, M nói với Th mua 02 gói Heroin và đưa 400.000 đồng cho Th. Khi Th vừa cầm tiền chưa kịp giao ma túy thì bị Tổ công tác công an phường Phúc Diễn phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

* Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của Đỗ Trung Th:

- 01 gói giấy kích thước khoảng 01x01cm, bên trong chứa chất bột màu trắng.

- 400.000 đồng tiền ngân hàng việt nam.

- 01 điện thoại OPPO A51 màu xanh đen số 0164307196*.

- 01 xe máy Honda Wave BKS: 29B1- 503.5*, số khung: 11285*, số máy: 134027*.

Thu giữ của Dương Thu Ph

- 01 hộp nhựa màu trắng, hình trụ cao khoảng 04 cm, đường kính 03 cm, bên trong chứa 16 gói giấy kích thước khoảng 01 x 01 cm bên trong chứa chất bột màu trắng.

- 01 gói giấy kích thước 01x01 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng .

Thu giữ của Nguyễn Tiến M

- 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đen, số sim 0164.875.636*.

Ngày 30/1/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 163/QĐ đối với số ma túy đã thu giữ của Đỗ Trung Th và Dương Thu Ph.

Tại Bản kết luận giám định số 1222/KLGĐ-PC54 ngày 08/2/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận:

Tang vật thu giữ của Đỗ Trung Th:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroin, khối lượng 0.116 gam.

Tang vật thu giữ của Dương Thu Ph:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng 0.133 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 16 gói giấy là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 2.038 gam.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Trung Th, Dương Thu Ph và Nguyễn Tiến M khai nhận hành vi như trên. Dương Thu Ph khai: Phương chỉ biết Đỗ Trung Th nghiện ma túy, đã có lần Ph nhìn thấy Th sử dụng gói ma túy giống như gói ma túy Th đưa cho Ph cầm hộ nên Ph biết gói giấy nhỏ Th đưa cho Ph là gói ma túy. Còn Ph không biết bên trong hộp nhựa màu trắng Th đưa cho Ph có gì. Khi Nguyễn Tiến M gọi điện nói chuyện với Ph thì không nói gì đến việc mua ma túy nên Ph không biết M gọi điện để mua ma túy. Ph không biết Th cầm 01 gói ma túy trong tay khi đi vào trong ngõ 180 Hoàng Quốc Việt và không biết Th đi vào ngõ 180 để bán ma túy cho M.

Đỗ Trung Th khai: Th không nói cho Ph biết Th bán ma túy. Ph chỉ biết Đỗ Trung Th nghiện ma túy, đã có lần Ph nhìn thấy Th sử dụng gói ma túy giống như gói ma túy Ph đưa cho Th cầm hộ nên Ph biết gói giấy nhỏ Th đưa cho Ph là gói ma túy. Khi Ph nói chuyện điện thoại với M thì tiếng điện thoại to và M trước đó đã gọi điện cho Th nhiều lần nên Th biết người gọi điện là M và M gọi điện để mua ma túy. Ph không biết trong hộp nhựa Th đưa cho Ph có gì. Đây là lần đầu tiên Th bán ma túy.

Nguyễn Tiến M khai: khi gọi điện cho Ph, M không nói gì về việc cần mua ma túy của Th với Ph.

Đối với nhà nghỉ H, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, T.P Hà Nội, người quản lý nhà nghỉ không biết Đỗ Trung Th đến thuê phòng để chia và sử dụng ma túy và thực hiện đúng quy định nên không có căn cứ xử lý.

Xác minh đối với xe máy Honda Wave Honda BKS: 29B1- 503.5* thu giữ của Đỗ Trung Th xác định: đăng ký xe mang tên Đỗ Thăng L (SN: 1988, HKTT: số phường N, quận B, T.P Hà Nội), con trai của Th. Anh Đỗ Thăng L và Đỗ Trung Th khai là L cho bố là Th mượn để làm phương tiện đi lại, không biết Th sử dụng xe máy để đi mua bán ma túy nên ngày 13/2/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã trả lại chiếc xe trên cho Đỗ Thăng L, anh L đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 68/CT-VKS ngày 24/4/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Trung Th về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Truy tố Dương Thu Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Trung Thủy mức án từ 30 đến 36 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Dương Thu Ph mức án từ 12 đến 18 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Xét các bị cáo là đối tượng nghiện, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị Toà án tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý là vật chứng của vụ án. Đề nghị tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng, tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước điện thoại di động OPPO A51 màu xanh của Th và điện thoại di động Nokia 105 V0360 mày xanh đen của Nguyễn Tiến M.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, rõ ràng, phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ ngày 30/01/2018, tại ngõ 180 đường Hoàng Quốc Việt, Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Đỗ Trung Th có hành vi bán trái phép ma túy là 0,328 gam heroin để bán cho Nguyễn Tiến M với giá 400.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra, Th còn tàng trữ trái phép 2.038 gam Heroin để vừa sử dụng vừa bán cho người nghiện. Trong lúc đó, cũng tại địa điểm trên, Dương Thu Ph tàng trữ trái phép ma túy là 0.133 gam heroin thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Đỗ Trung Th như trên đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi tàng trữ trái phép 0.133 gam heroin của bị cáo Dương Thu Ph đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy, bản cáo trạng số: 68/CT-VKS ngày 24/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý, kiểm soát ma túy, chính sách phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ đối với con người, không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, ma tuý còn làm tha hoá đạo đức, huỷ hoại sức khoẻ, nòi giống của người sử dụng nó, là nguyên nhân của nhiều căn bệnh nguy hiểm và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm nguy hiểm khác.

Đánh giá vai trò và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Đỗ Trung Th phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích trục lợi, kiếm lời và để thoả mãn cơn nghiện. Nhân thân bị cáo xấu, bị cáo từng bị xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo thành công dân tốt mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Dương Thu Ph không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Th. Tuy nhiên, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy đến sức khỏe con người và các hệ luỵ mà ma tuý gây ra đối với xã hội, xong bị cáo không can ngăn Th mà còn giữ ma túy cho Th. Do đó, cần xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn nên áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Dương Thu Ph lần đầu phạm tội, bố đẻ bị cáo là thương binh, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì đã niêm phong bên trong chứa chất ma túy heroin, đã giám định, bên ngoài phong bì có chữ ký giáp lai của Đỗ Trung Th và giám định viên Lê Khắc N và cán bộ Công an phường Phúc Diễn Lê Văn B.

+ 02 phong bì đã niêm phong bên trong chứa chất ma túy heroin, đã giám định, bên ngoài phong bì có chữ ký giáp lai của Dương Thu Ph và giám định viên Lê Khắc N và cán bộ Công an phường Phúc Diễn Lê Văn B.

+ 01 hộp nhựa màu trắng hình trụ, cao khoảng 04 cm, đường kính 03 cm.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A51w màu xanh đen lắp sim: 0164307196*, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen lắp số sim: 0164875636*, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

- Số tiền 400.000đồng.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trung Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đỗ Trung Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2018.

2. Tuyên bố: Bị cáo Dương Thu Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s Khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Dương Thu Ph 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/01/2018.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì đã niêm phong bên trong chứa chất ma túy heroin, đã giám định, bên ngoài phong bì có chữ ký giáp lai của Đỗ Trung Th và giám định viên Lê Khắc N và cán bộ Công an phường Phúc Diễn Lê Văn B.

+ 02 phong bì đã niêm phong bên trong chứa chất ma túy heroin, đã giám định, bên ngoài phong bì có chữ ký giáp lai của Dương Thu Ph và giám định viên Lê Khắc N và cán bộ Công an phường Phúc Diễn Lê Văn B.

+ 01 hộp nhựa màu trắng hình trụ, cao khoảng 04 cm, đường kính 03 cm.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A51w màu xanh đen lắp sim: 016430719**, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen lắp số sim: 0164875636*, đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

- Số tiền 400.000đồng.

(Đặc điểm, số lượng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 96/18 ngày 24/4/2018).

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 3 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 23; Khoản 7 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ