vanban.org

Bản án 59/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 14/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 59/2018/HS-ST

Ngày: 14/05/2018

NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG S N - TỈNH LẠNG S N - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Tr ơng Đức Hải. Các Hội thẩ nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hồi - Bà L ơng Thị Liên - hư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan - Th ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn H ng- Kiểm sát viên. Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới chết) và bà Trần Thị N; vợ Chu Thị A, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1988, nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 năm tù về tội vận chuyển, l u hành tiền Sơn xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (ch a đ ợc xóa biện pháp Cấm đi khỏi nơi c trú, vắng mặt. - Người là chứng: Hoàng Văn D, sinh năm 1989 - vắng mặt. + Ông Trần Viết T, sinh năm 1953 - vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: nam thanh niên (không biết tên và địa chỉ) đến bán chịu cho Nguyễn Hữu H 08

gói ma túy Heroin với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), khi nào bán đ ợc sẽ trả tiền sau. Nguyễn Hữu H cất giấu ma túy trong ng ời nhằm mục đích để tiện sử dụng và đem bán lại cho ng ời khác. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Văn D sinh năm 1989, trú tại thôn Q1, xã Q, thành phố L vào nhà và mua môt gói ma túy với Nguyễn Hữu H trị giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Hoàng Văn D vừa đem gói ma túy ra khỏi cửa nhà Nguyễn Hữu H thì bị tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Hoàng Văn D một gói giấy chứa chất bột màu trắng; khám xét tại nhà ở, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Hữu H 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và 07 gói chứa chất bột màu trắng. thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 07 gói ma túy thu đ ợc của Nguyễn Hữu H là chất ma túy Heroine, trọng l ợng 0,240 gam và một gói giấy chứa chất bột màu trắng, thu giữ của Hoàng Văn D là chất là chất ma túy Heroine, trọng l ợng 0,030 gam. Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hữu H thừa nhận: Bị cáo bị tái nghiện ma túy từ lâu nên th ờng mua ma túy để sử dụng dần và đem bán lại gi ờng ngủ ngay sát với cửa chính thì có một nam thanh niên không biết tên (sau khi lập biên bản mới biết tên là Hoàng Văn D sinh năm 1989, trú tại thôn Q1, xã Q, thành phố L) mở cửa đi vào trong nhà hỏi và mua một gói ma túy với bị cáo trị giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Khi vừa mua bán xong, bị cáo cầm tờ tiền trong lòng bàn tay phải, ch a kịp cất giữ thì bị tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang. trình bày: Do bị bệnh nặng (viêm khớp dạng thấp, di chứng do tai biến mạch máu não, chân tay co cứng, vận động đi lại khó khăn, tình trạng sức khỏe yếu) nên không thể đến Tòa án theo giấy triệu tập, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng truy tố. nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự 1999. bị cáo mua ma túy với một ng ời không quen biết và đã bán lại cho Hoàng Văn D, một gói ma túy trị giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), bị cáo ch a kịp cất giữ tiền thì bị tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên nội dung truy tố nh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đề nghị áp dụng điểm khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 và Điều 51 của Bộ luật hình sự 1999; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù; tổng hợp với 08 (tám) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số

án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là đối t ợng nghiện ma túy, không có tài sản. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy đã niêm phong đựng mẫu vật sau giám định; tịch thu của bị cáo 100.000đ (một trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà n ớc và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án,

căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau: [01] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không có ng ời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [02] Với lý do bệnh nặng (viêm khớp dạng thấp, di chứng do tai biến mạch máu não, chân tay co cứng, vận động đi lại khó khăn) và đang đ ợc hoãn thi hành án. Ngày 10/5/2018 Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn nhận đ ợc đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị cáo. [03] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu H tại Cơ quan điều tra phù hợp với biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đ ợc công khai tại phiên toà. Mặt khác, tr ớc khi phạm tội bị cáo đã có hai tiền án về tội "vận chuyển, l u hành tiền giả" và tội "Mua bán trái phép chất ma túy" đến nay đều ch a đ ợc xóa án tích, đây là tình tiết định khung tăng nặng. Nh vậy có đủ căn cứ khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 là đúng ng ời, đúng tội. [04] Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà n ớc, gây mất trật tự an ninh tại địa ph ơng. Bị cáo nhận thức đ ợc tác hại của ma túy và biết việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, ảnh h ởng tới sức khỏe, thiệt hại về kinh tế của cá nhân và gia đình, là nguyên nhân lây nhiễm căn bệnh thế ky HIV/AIDS và nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, nh ng bị cáo vẫn cố tình thực hiện

[05] Về nhân thân: Bị cáo là ng ời nghiện chất ma túy và đang bị bệnh nặng (viêm khớp dạng thấp, di chứng do tai biến mạch máu não, chân tay co cứng, vận động đi lại khó khăn). Ngày 27/8/2001 Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 năm tù về tội vận chuyển, l u hành tiền giả. Ngày 26/9/2014 Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" đang đ ợc hoãn thi hành án, đến nay các tiền án trên đều ch a đ ợc xóa án tích, nh ng bị cáo đã không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt thỏa đáng nhằm giáo dục và phòng ngừa chung. [06] Về tình tiết tăng nặng: Không có; [07] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hữu H thành khẩn khai báo, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, đ ợc xem xét khi quyết định hình phạt. [08] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân ng ời phạm tội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ đ ợc chấp nhận, bởi lẽ bị cáo phạm tội thuộc tr ờng hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Hữu H là cần thiết, để bị cáo cải tạo và sớm trở thành ng ời có ích cho gia đình và xã hội, góp phần răn đe và phòng ngừa tội phạm tại địa ph ơng. Do bị cáo đang đ ợc hoãn chấp hành hình phạt 08 (tám) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 147/2014/HS-ST ngày 26/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, nay lại phạm tội do cố ý. Vì vậy buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. [09] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối ng ời nghiện ma túy, bị bệnh tật lại sống phụ thuộc gia đình, không có thu nhập và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [10] Đối với ng ời thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo không biết danh tính. Cơ quan điều tra ch a xác minh làm rõ đ ợc nên không đề cập xử lý. [11] Về vật chứng: Đối với 02 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định là vật Nhà n ớc cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà n ớc theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. [12] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. [13] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 51. Căn cứ khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 07 (bảy) năm tù. Tổng hợp với 08 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 147/2014/HS-ST ngày 26/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (m ời lăm) năm tù, đ ợc trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 12/6/2014 đến ngày 15/6/2014); thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. 2. Xử lý vật chứng: - Tịch thu, tiêu hủy 02 gói ma túy đã niêm phong đựng mẫu vật sau giám định. - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Hữu H 100.000đ (một trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà n ớc. (Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2018 và phiếu chuyển tiền điện tử số 19 ngày 06 tháng 4 nă 2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Lạng Sơn). 3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung ngân sách Nhà n ớc. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đ ợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ