vanban.org

Bản án 59/2017/DSPT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 31/05/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/05/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a à Dương Thùy V đối với à ê Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” về vay tài sản.

Bà ê Thị có nghĩa vụ trả nợ cho à Dương Thùy V số tiền gốc là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền lãi tính đến ngày 16 tháng 12 năm 2016 là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng). Tổng cộng 168.000.000đ (Một trăm sáu mươi tám triệu đồng). Kể từ ngày ên được thi hành án có đơn yêu cầu t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Dương Thùy V tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Lê Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a à Dương Thùy V đối với à ê Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” về vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 478 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2017/DS-PT
Ngày: 31- 5 - 2017
V/v: “T/c hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

[[[

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đoàn Ngọc Thiện

Các thẩm phán:

Ông Trương Văn Tâm

Ông Trịnh Hoàng Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ông Lê Văn Thiên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 5 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2017/TLPT-DS ngày 10 tháng 3 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” về vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2016/DSST ngày 16 tháng 12 năm 2016 c a T a án nhân dân huyện ong Điền ị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2017/QĐPT- DS ngày 24 tháng 4 năm 2017; Quyết định hoãn phiên t a số 50/2017/QĐ-HPT ngày 05 tháng 5 năm 2017; Quyết định Thay đổi người tiến hành tố tụng số 33/2017/QĐ-TĐTT ngày 29 tháng 5 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thùy V, sinh năm 1980, trú tại: Số 67C đường L, phường R, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà ê Thị , sinh năm 1968, trú tại: Số 2/1A1 ấp A, xã N, huyện ong Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1965, trú tại: Số 2/16A ấp A, xã N, huyện ong Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

(Các đương sự có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Dương Thùy V trình bày:

Ngày 11 tháng 12 năm 2015 Bà và à ê Thị có giao kết “Hợp đồng vay tiền” với nội dung: Bà cho bà L vay số tiền 150.000.000đ, thời hạn vay 06 tháng. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng nên Bà yêu cầu T a án giải quyết uộc bà L trả số tiền nợ gốc là 150.000.000đ và lãi suất tính đến ngày 11 tháng 8 năm 2016 là 12.000.000đ, đồng thời à tiếp tục chịu lãi suất 01%/tháng cho đến khi T a án giải quyết xong vụ kiện.

- Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Lê Thị L trình bày:

Ngày 20 tháng 01 năm 2014 Bà có đứng ra vay tiền dùm cho à Hồ Thị T c a bà Dương Thùy V số tiền 120.000.000đ, lãi suất 6.000.000đ/tháng. Khi vay tiền Bà đã thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt: GCNQSD đất) do Bà đứng tên, nhưng à V yêu cầu phải lập hợp đồng chuyển nhượng đất thì mới cho vay. Trong quá trình trả nợ, bà T đã trả lãi được 07 tháng cho bà V. Do à T có hoàn cảnh khó khăn nên à V hạ lãi suất xuống còn 3.600.000đ/tháng và bà T đã trả lãi được khoảng 01 năm thì ngừng. Tính đến năm 2016, bà T đã trả cho à V số tiền nợ gốc là 80.000.000đ và c n nợ lại 40.000.000đ. Do bà T không trả tiền gốc và tiền lãi nữa nên ngày 11/12/2015 bà V yêu cầu viết giấy nợ là 150.000.000đ và ký nhận nợ thì bà V mới trả GCNQSD đất cho Bà để Bà thế chấp và vay tiền trả cho à V. Cùng ngày 11/12/2015, Bà đã vay c a à Hoàng Thị H 80.000.000đồng để trả cho à V. Cũng trong ngày hôm đó, à và bà V đã thỏa thuận h y Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/01/2014 đảm ảo cho khoản vay 120.000.000đồng. Nay Bà khẳng định là chỉ c n nợ à V số tiền gốc 40.000.000đồng và yêu cầu à T có trách nhiệm trả số tiền này cho bà V. Đề nghị à V không tính lãi c a số tiền này.

- Tại bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Thị T trình bày:

Bà thống nhất như lời trình ày c a à , bà đồng ý trả cho à V số tiền nợ gốc c n lại là 40.000.000đ, đề nghị à V không tính lãi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2016/DSST ngày 16 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a à Dương Thùy V đối với à ê Thị L về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

2. Buộc à ê Thị có nghĩa vụ trả nợ cho à V số tiền gốc là 150.000.000đ và số tiền lãi tính đến ngày 16 tháng 12 năm 2016 là 18.000.000đ. Tổng cộng là 168.000.000đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo c a các đương sự theo quy định c a pháp luật.

Ngày 21 tháng 12 năm 2016, bị đơn bà Lê Thị L có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử:

Sửa toàn ộ Bản án sơ thẩm số 32/2016/DSST ngày 16/12/2016 c a T a án nhân dân huyện ong Điền theo hướng là bà không phải trả cho bà V số tiền gốc 150.000.000đ và số tiền lãi 18.000.000đ. Đề nghị à Hồ Thị T phải có trách nhiệm trả cho à V số tiền nợ gốc 40.000.000đồng.

Tại phiên t a phúc thẩm, các đương sự không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới, không yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác.

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện;

- Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nên ị đơn xin Hội đồng xét xử và đại diện Viện kiểm sát xem xét giảm cho một phần án phí sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên t a phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký phiên t a và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định c a Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về kháng cáo c a đương sự: Xét thấy, ị đơn kháng cáo cho rằng mình đã vay tiền hộ cho à T và bà T có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền nợ gốc còn lại là 40.000.000đồng, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh về việc này, nên đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo c a ị đơn.

- Về yêu cầu xem xét giảm một phần án phí sơ thẩm cho ị đơn. Nhận thấy, tại phiên t a phúc thẩm, ị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình ày về hoàn cảnh khó khăn dẫn đến không có khả năng trả nợ, điều này thể hiện qua sự xác nhận c a chính quyền địa phương. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và giảm cho ị đơn ½ số tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án sơ thẩm số 32/2016/DSST ngày 16/12/2016 c a T a án nhân dân huyện ong Điền về phần nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm c a ị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng c a vụ án:

Đơn kháng cáo c a ị đơn thực hiện đúng quy định c a pháp luật và còn trong thời hạn nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Bà Dương Thùy V tranh chấp hợp đồng dân sự về việc vay tài sản với à ê Thị và à có nơi cư trú tại ấp A, xã N, huyện ong Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm c a Tòa án nhân dân huyện ong Điền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án và kháng cáo c a ị đơn:

Nhận thấy, ngày 11/12/2015 bà V có cho à ợi vay số tiền 150.000.000đ, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất theo thỏa thuận; hợp đồng vay tiền được công chứng tại Văn ph ng Công chứng Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do bà L không thực hiện thỏa thuận nên bà V đã khởi kiện yêu cầu à trả số tiền gốc 150.000.000đ và lãi suất tính đến ngày 11/8/2016 là 12.000.000đ, đồng thời tiếp tục trả lãi suất 01%/tháng cho đến khi T a án giải quyết xong vụ kiện.

Như vậy, việc bà V cho bà L vay số tiền 150.000.000đ là có thật, điều này được thể hiện qua Hợp đồng vay tiền được công chứng ngày 11/12/2015 nêu trên; “Giấy giao nhận tiền” ngày 11/12/2015 và sự thừa nhận c a à L có ký vào giấy nhận số tiền 150.000.000đ. Nội dung hợp đồng vay tiền không trái pháp luật cả về lãi suất và thời hạn vay 06 tháng, nên được xem là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi suất. Tuy nhiên, trong hợp đồng các đương sự không thỏa thuận mức lãi suất cụ thể, nên căn cứ vào mức lãi suất quy định tại thời điểm giải quyết tranh chấp thì việc à V yêu cầu tính lãi suất 1%/tháng là không trái với quy định c a pháp luật. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu c a à V, uộc bà L có nghĩa vụ trả cho à V số tiền nợ gốc là 150.000.000đ và lãi suất tính từ ngày 11/12/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm 16/12/2016 là 18.000.000đ.

Việc à L và bà T cho rằng, bà L không có vay tiền c a à V mà bà chỉ ký tên vào hợp đồng để vay dùm cho à T từ à V với số tiền 120.000.000đ, lãi suất 6.000.000đ/tháng. Do không có khả năng trả nợ nên sau đó à V đã hạ lãi suất xuống c n 3.600.000đ/tháng. Khi vay tiền bà L có thế chấp cho bà V giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) do bà đứng tên. Tính đến năm 2016 bà T đã trả cho bà V số tiền gốc là 80.000.000đ nên c n nợ 40.000.000đ. Do à T không có tiền trả nợ nên à V viết giấy nợ 150.000.000đ yêu cầu à ký tên mới trả sổ đỏ. Do cần lấy sổ đỏ về nên bà L đã ký tên nợ à V số tiền 150.000.000đ và bà V đã trả sổ đỏ cho bà L. Nay bà L không đồng ý trả nợ cho à V mà yêu cầu à T trả nợ cho bà V số tiền gốc c n lại là 40.000.000đ. Bà T đồng ý trả nợ cho à V số tiền 40.000.000đ và yêu cầu không trả lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà V không đồng ý theo yêu cầu c a bà L và bà T.

Xét thấy, lời trình ày c a à và à T không được à V thừa nhận. Bà L và bà T không có chứng cứ gì để chứng minh việc à mượn tiền dùm cho bà T và việc à T đã trả lãi và trả nợ gốc cho à V. Tài liệu, chứng cứ à cung cấp cho T a án chỉ thể hiện à vay số tiền 80.000.000đ c a à Hoàng Thị H vào ngày 11/12/2015, không có liên quan đến à V. Đồng thời, tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/01/2014 (Trước ngày vay tiền gần 02 năm) thể hiện à chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 100,4m2 xã A, huyện ong Điền cho bà V. Đến ngày 11/12/2015 (Ngày vay tiền) bà L và bà V thống nhất lập Văn ản h y ỏ HĐCNQSD đất nêu trên tại văn ph ng công chứng. Các văn ản này cũng không thể hiện việc à L vay tiền dùm cho bà T và bà T đã trả nợ gốc cho à V số tiền là 80.000.000đ. Do đó, việc à yêu cầu à T trả nợ cho bà V cũng như việc bà T đồng ý trả nợ cho bà V thay cho bà L số tiền gốc 40.000.000đ và yêu cầu không trả lãi là không có căn cứ để chấp nhận.

Vì không thể hiện mối quan hệ ảo lãnh, thế chấp giữa à , à T và à V trong vụ án này, nên nếu có phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa bà L và bà T hoặc giữa à và à H thì các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu T a án giải quyết ằng một vụ án dân sự khác.

Viện kiểm sát đề nghị ác kháng cáo c a ị đơn về số tiền phải trả, chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn, uộc ị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Cấp sơ thẩm đã giải quyết là có căn cứ và đúng quy định. Tuy nhiên, nội dung đơn kháng cáo là kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm và tại phiên t a phúc thẩm bà L và bà T yêu cầu xem xét giảm một phần án phí sơ thẩm cho ị đơn. Tại phiên t a phúc thẩm à đã trình ày về hoàn cảnh khó khăn dẫn đến không có khả năng trả nợ là có thật, điều này thể hiện qua sự xác nhận c a chính quyền địa phương. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận và giảm cho ị đơn ½ số tiền án phí dân sự sơ thẩm phải nộp theo quy định c a pháp luật; cụ thể:

8.400.000đồng (Số tiền phải nộp theo quy định) : 2 (số tiền được giảm) là 4.200.000đồng (số tiền phải nộp sau khi được giản 1/2).

Như vậy, ý kiến c a đại diện viện kiểm sát là có cơ sở, cần được chấp nhận và sửa án sơ thẩm về phần án phí mà cấp sơ thẩm không có lỗi.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ị đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 c a Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo c a ị đơn, sửa một phần ản án sơ thẩm về phần án phí.

Căn cứ Điều 471; Điều 474; Điều 476; khoản 2 Điều 478 c a Bộ luật dân sự năm 2005; Khoản 2 Điều 468 c a Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 14 và 15 Pháp lệnh án phí, lệ phí T a án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a à Dương Thùy V đối với à ê Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự” về vay tài sản.

2. Bà ê Thị có nghĩa vụ trả nợ cho à Dương Thùy V số tiền gốc là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) và số tiền lãi tính đến ngày 16 tháng 12 năm 2016 là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng). Tổng cộng 168.000.000đ (Một trăm sáu mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày ên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án c n phải trả cho ên được thi hành án khoản tiền lãi c a số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015/số tiền phải trả, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị phải chịu 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm ngàn) đồng.

Bà Dương Thùy V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà V số tiền tạm ứng án phí 4.050.000đ theo iên lai số 0000135 ngày 06/9/2016 c a Chi cục thi hành án dân sự huyện ong Điền.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà ê Thị không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà L số tiền 200.000đồng đã nộp tạm ứng án phí theo iên lai số 0001523 ngày 27/12/2016 c a Chi cục Thi hành án dân sự huyện ong Điền.

“Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 uật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 uật thi hành án dân sự”.

Bản án này có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (Ngày 31/5/2017).

Cỡ chữ