- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 589/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2024 V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Bửu Khánh
2. Ông Võ Minh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Nhan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang ham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 350/2024/TLST - HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 390/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024; giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm: 2003; địa chỉ: ấp Rạch, xã Hiệp Mỹ Đông, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm: 1998; địa chỉ: ấp Ngã Năm, xã Ngọc Thành, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và ý kiến thể hiện trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày: Chị và anh C tự tìm hiểu quen biết trước và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thành, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống cũng hạnh phúc nhưng dần về sau thì cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự quan T lẫn nhau, thường xuyên cải nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Nhận thấy giữa chị và anh C không thể nào tiếp tục chung sống hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C. Về con chung, chị và anh C có một con chung tên Huỳnh Thị Tường L, sinh ngày 08/11/2021, hiện con đang sống với anh C. Chị T đồng ý giao con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung, chị T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Văn C không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến đối với yệu cầu khởi kiện của chị T và vắng mặt qua các lần mời của Tòa án.
Phát biểu quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn được thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C tự quen biết trước, đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thành nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị T cho rằng quá trình chung sống giữa chị và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống chung, bất đồng ý kiến, hay cải nhau, thiếu sự quan T chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và giữa chị T và anh C đã ly thân nhau từ tháng 01/2024 cho đến nay. Anh C không có ý kiến phản đối, tuy nhiên xét thấy hiện tại chị T đã không còn chung sống với anh C. Thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết, anh C cũng không có thiện chí hàn gắn, không tham gia phiên họp hòa giải nhiều lần vắng mặt qua các lần mời của Tòa nên xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích xây dựng hôn nhân lâu dài bền vững không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn anh C là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị T ly hôn anh C.
Về con chung: Chị T xác định chị và anh C có một con chung tên Huỳnh Thị Tường L, sinh ngày 08/11/2021. Xét thấy, hiện nay cháu L đang sống với anh C, cháu vẫn phát triển tốt về mặt thể chất và tinh thần và chị T cũng có ý kiến giao con cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh C cũng không có ý kiến nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về trình tự tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với anh C nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và anh C với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Chị T là nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Anh C với tư cách là bị đơn trong vụ kiện. Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về việc kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét và quyết định hoãn phiên Tòa trực tiếp cho anh C và thông qua ông Huỳnh Văn Vàng (cha anh C) nhưng anh C vắng mặt qua các lần mời của Tòa. Mặc dù, anh biết rõ thông tin của vụ việc và các yêu cầu khởi kiện của chị T. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã tiến hành đưa vụ kiện ra xét xử vắng mặt chị T, anh C là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C tự tìm hiểu quen biết trước tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thành, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh, chị được xem là hợp pháp. Theo chị T trình bày quá trình chung sống giữa chị và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống chung, bất đồng ý kiến, hay cải nhau, thiếu sự quan T chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và giữa chị T và anh C đã ly thân nhau từ khi khởi kiện cho đến nay. Trái lại anh C không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng anh C không có ý kiến phản đối cũng như cung cấp tài liệu chứng cứ gì, không có mặt để tham gia hòa giải nhằm mục đích để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích xây dựng hôn nhân lâu dài bền vững không đạt được. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị T ly hôn anh C.
Về con chung: Chị T xác định chị và anh C có một con chung tên Huỳnh Thị Tường L, sinh ngày 08/11/2021. Chị T yêu cầu giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng do hiện nay cháu L đang sống với anh C và ông bà Nội. Anh C cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của chị T, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà chị T cung cấp là giấy khai sinh của cháu L, đã xác định các cháu là con chung của chị T và anh C.
Xét thấy, hiện nay cháu L đang sống với anh C, cháu vẫn phát triển tốt về mặt thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử xử giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung không ai có quyền cản trở.
Về tài sản và nợ chung: Chị T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh C cũng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Án phí ly hôn sơ thẩm chị T phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002854 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp thêm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với anh Huỳnh Văn C.
2. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Thị Tường L, sinh ngày 08/11/2021 cho anh Huỳnh Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Kiều T không phỉa cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị Kiều T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002854 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị T đã nộp đủ án phí nên không phải nộp thêm.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Hương |