- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự - tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 588/2018/DS-ST Ngày: 16/10/2018 V/v Tranh chấp Hợp đồng dân sự - tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Linh Chi
Ông Lê Văn Quý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phan Duy Thịnh, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2017/TLST-DS ngày 18 tháng 1 năm 2017 về tranh chấp "Hợp đồng dân sự
- tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4426/2018/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 4897/2018/QĐST-KDTM ngày 25 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; trụ sở: đường M, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Bà B; trú tại: đường Q, Phường R, Quận S, Thành Phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Quyết định ủy quyền số 1147/QĐ-DAB-PC ngày 16/10/2018) (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông C, sinh năm 1972; Trú tại: đường X, phường V, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản khai tại Tòa người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP A trình bày:
Ngày 23/3/2009, ông C có ký với Ngân hàng TMCP A Hợp đồng sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 9534/TC 24/2009 số tiền vay 7.000.000 đồng; lãi suất 1,07%/tháng thời hạn vay 12 tháng từ ngày 23/3/2009 đến 23/3/2010. Do ông C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 23/3/2010 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 07/8/2018 ông C còn nợ ngân hàng tiền gốc là 5.811.685 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.059.867 đồng. Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông C trả ngay cho Ngân hàng số tiền còn nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh từ ngày 08/8/2018 cho đến ngày trả nợ xong.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Ngày 16/10/2018 Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP A gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Phiên tòa tiến hành với sự có mặt đầy đủ của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa như quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo đúng trình tự thủ tục quy định tại các Điều 237, Điều 239, Điều 250, Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng;
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 và nội quy phiên tòa tại Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập tống đạt, niêm yết công khai hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng vi phạm điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng thể hiện ông C có đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi ngày 23/3/2009 như Ngân hàng A trình bày là đúng. Căn cứ vào các bảng chi tiết dư nợ chưa thanh toán của ông C, bảng tính lãi hồ sơ vay của khách hàng thể hiện ông C chưa thanh toán cho Ngân hàng A. Do đó, Ngân hàng TMCP A yêu cầu ông C có trách nhiệm trả khoản tiền còn lại tạm tính đến ngày 07/8/2018, tổng cộng cả vốn và lãi là 14.871.552 đồng và tiền lãi quá hạn cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng vay số 9534/TC 24/2009 là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ Điều 91; Khoản 1, Khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng 2010.
Căn cứ Điều 278, Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc ông C phải có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng TMCP A số tiền vốn là 5.811.685 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 07/8/2018 là 9.059.867 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 08/8/2018 cho đến ngày trả xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ngân hàng TMCP A có đơn khởi kiện tranh chấp Hợp đồng dân sự
- tín dụng với ông C cư trú tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn - ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn như quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Xét, yêu cầu của Ngân hàng TMCP A đòi ông C trả số tiền nợ gốc là 5.811.685 đồng;
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A tại Tòa; xét thấy, có đủ cơ sở xác định ngày 23/3/2009, ông C có ký Giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số -9534/ TC24/2009 với Ngân hàng TMCP A; việc thỏa thuận giữa Ngân hàng A và ông C phù hợp với quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật.
Tại Tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A cho biết sau khi được cấp tín dụng, ông C đã không thanh toán tiền đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng; số tiền gốc ông C còn nợ Ngân hàng là 5.811.685 đồng. Ông C không còn ở địa chỉ nơi cư trú trong giấy đăng ký nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết; Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông C, nhưng ông không đến Tòa giải quyết cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của Ngân hàng; do đó, yêu cầu của Ngân hàng đòi ông C trả số tiền nợ gốc 5.811.685 đồng là phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Xét, yêu cầu của Ngân hàng A đòi ông C trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/10/2018 là 9.280.625 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày Tòa xử;
Tại Tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng giải trình do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/3/2010 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16/10/2018, tiền lãi quá hạn ông C nợ Ngân hàng là 9.280.625 đồng. Việc chuyển nợ quá hạn và cách tính tiền lãi của Ngân hàng phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng; do đó, yêu cầu của Ngân hàng TMCP A đòi ông C trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/10/2018 là 9.280.625 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày Tòa xử là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 15.092.310 đồng (5.811.685 đồng + 9.280.625 đồng) phải trả cho Ngân hàng TMCP A là 754.616 đồng.
Ngân hàng TMCP A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 324.528 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0019040 ngày 18/1/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 và điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn;
Buộc ông C trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền còn nợ tính đến ngày 16/10/2018 là 15.092.310 đồng ( mười lăm triệu không trăm chín mươi hai ngàn ba trăm mười) đồng, bao gồm: Tiền gốc là 5.811.685 (năm triệu tám trăm mười một ngàn sáu trăm tám mươi lăm) đồng, tiền lãi quá hạn là 9.280.625 đồng (chín triệu hai trăm tám mươi ngàn sáu trăm hai mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng , các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 754.616 đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP A tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 324.528 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0019040 ngày 18/1/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ngân hàng TMCP A và Ông C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Quận 1, TP.Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thái Hằng |