- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức C, giữ nguyên bản
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 588/2017/HSPT Ngày: 16/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thao
Các Thẩm phán: 1. Ông Đặng Hồng Sơn
2. Bà Phạm Uyên Thy
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng – Cán
bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Võ Văn Thanh – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 530/HSPT
ngày 05/10/2017 đối với bị cáo Nguyễn Đức C do có kháng cáo của bị cáo đối
với bản án hình sự sơ thẩm số 72/2017/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân
dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức C; giới tính: nam; sinh năm: 1967 tại: Thành phố Hồ Chí
Minh; thường trú: Đường DK, Phường M, Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh;
chỗ ở: đường B, Phường M2, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học
vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Ngọc E (chết) và bà Nguyễn
Thị T; hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Phạm Thị Thu L và 02 con (con lớn
sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993); tiền án: ngày 30/11/1999, Tòa án
nhân dân Quận H xử phạt 05 năm 06 tháng tù về các tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình
phạt tù ngày 25/4/2004, chưa thi hành xong phần dân sự; ngày 28/12/2011,
Tòa án nhân dân Quận H xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2014, chưa thi hành
xong phần dân sự; tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam ngày: 19/01/2017 (có mặt tại tòa).
NHẬN THẤY
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận B và bản án sơ
thẩm của Toà án nhân dân Quận B thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 19/01/2017, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều
tra tội phạm về Ma Túy – Công an Quận B tuần tra đến trước đường K, Phường M3, Quận B phát hiện Nguyễn Đức C đang điều khiển xe gắn máy Yamaha Nouvo, biển số 52F4 – 8404 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện bên trong túi áo phía trước bên trái của C đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, trong hộc xe phía trước bên phải có 01 gói thuốc lá hiệu Craven bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và bên trong chiếc bóp màu hồng được gắn cùng chìa khóa có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng. Nghi vấn tất cả là ma túy, Cơ quan Công an đã tiến hành bắt giữ C cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường M3, Quận B lập biên bản phạm pháp quả tang.
Đến 13 giờ 20 phút, ngày 20/01/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công
an Quận B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi cư trú của Nguyễn Đức C tại nhà đường B, Phường M2, Quận Q. Qua khám xét Cơ quan Công an phát hiện trên kệ bếp tại tầng trệt của căn nhà có 02 bịch nylon chứa chất bột màu trắng và 01 bịch nylon chứa nhiều cục chất bột màu trắng nghi vấn là ma túy nên đã tiến hành thu giữ.
Tại kết luận giám định số 388/KLGD - H ngày 22/02/2017 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên
ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Đức C và hình dấu Công an Phường 5, Quận B gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,7352g (bốn phẩy bảy ba năm hai gam), loại Methamphetamine.
Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên
ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Đức C và hình dấu Công an Phường 5, Quận B gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,0400g (năm phẩy không bốn không không gam), loại Methaphetamine.
Gói 3 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Đức C và
hình dấu Công an Phường 5, Quận B gửi đến giám định, bên trong có: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9143g (không phẩy chín một bốn ba gam), loại Methamphetamine; Chất bột màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6205g ( một phẩy sáu hai không năm gam), loại Heroine.
Gói 4 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Đức C và
hình dấu Công an Phường 2, quận Bình Q gửi đến giám định, bên trong có: Chất bột màu trắng trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,8336g (hai phẩy tám ba ba sáu gam), loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Đức C khai nhận. Khoảng 14 giờ
ngày 17/01/2017, có đối tượng thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho C hỏi mua 01 bịch ma túy đá giá 500.000 đồng. C đồng ý và hẹn
người thanh niên này đến đường Lê Văn Sỹ, quận T để giao ma túy. Sau đó, C
điều khiển xe gắn máy Yamaha Nouvo biển số 52F4 – 8404 đến quán cà phê
trên lề đường Phạm Văn H, quận T gặp đối tượng tên Tí C (chưa rõ nhân thân
lai lịch) mua 01 bịch ma túy đá giá 300.000 đồng và xin thêm 01 bịch ma túy
Heroine nói là để sử dụng nhưng thực chất là để bán cho người nghiện kiếm
lời. Sau khi mua được ma túy, C chạy xe về đường V, quận T giao cho người
mua. Tại đây, người thanh niên mua ma túy lấy ít ma túy đá C giao ra thử và
cho biết không chất lượng nên không mua. Thấy vậy, C đem số ma túy này về
nhà mình tại đường B, Phường M2, quận Q. C cất bịch ma túy Heroine trên kệ
bếp trong nhà để chờ người nghiện hỏi mua thì bán. Riêng bịch ma túy đá C
lấy một ít ra sử dụng cho bản thân, phần còn lại C cất vào chiếc bóp màu hồng
gắn chung với chìa khóa xe cũng để chờ người nghiện hỏi mua thì bán.
Đến 20 giờ, ngày 19/01/2017 có 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân
lai lịch) gọi điện thoại cho C hỏi mua 01 bịch ma túy đá giá 3.000.000 đồng và
hẹn giao ở ngã tư đường W -G, Quận B. C đồng ý và điều khiển xe gắn máy
Yamaha Nouvo biển số 52F4 – 8404 đến khu vực đường V - H, quận T gặp Tí
C mua 02 bịch ma túy đá giá 5.000.000 đồng và được Tí C cho thêm 01 bịch
Heroine. Sau khi mua được ma túy, C cất 01 bịch ma túy hàng đá vào túi áo
phía trước bên trái đang mặc dự định bán cho người nghiện giá
2.800.000đồng/bịch, bịch ma túy đá còn lại C cất vào gói thuốc lá hiệu Craven
để trong hộc phía trước bên phải xe gắn máy để đi qua Quận B giao cho người
phụ nữ, còn bịch ma túy Heroine được cho C cất vào trong bóp màu hồng để
chung với 01 gói ma túy đá còn dư ngày 17/01/2017 để bán. Đến 22 giờ 30
phút cùng ngày, khi C điều khiển xe gắn máy đến trước đường G, Phường M3,
Quận B thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ như đã nêu trên. C khai đã
02 lần mua ma túy nhưng chưa bán được cho người nghiện nên không thu
được lợi gì.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2017/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa
án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bị cáo Nguyễn Đức C
phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, o, p khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1
Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Đức C 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
19/01/2017.
Phạt tiền Nguyễn Đức C 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà
nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về tang vật, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/9/2017, bị cáo Nguyễn Đức C làm đơn kháng cáo với nội dung
xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức C thừa
nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai
của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Đức C đã có hành vi 02 lần mua bán trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần; bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm; ngoài ra bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 10,6895gam ma túy loại Methamphetamine và 4,4541gam ma túy loại Heroin nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b, o, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt bị cáo, xét không có tình tiết gì mới để có thể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức C giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu được tình tiết gì mới. Xét, tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mức án tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt Nguyễn Đức C 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là thỏa đáng. Từ những tình tiết trên, xét kết luận của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị nên giữ nguyên.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức C, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Mua bán trái phép chất
ma túy”.
- Áp dụng điểm b, o, p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ
luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xử phạt: Nguyễn Đức C 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
19/01/2017.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP-HCM; (3) - THA-DS Quận B; (1) - VKSND Quận B; (1) - TAND Quận B; (2) - Công an Quận B; ; (1) - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (2) - Trại giam; (2) - Bị cáo; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ. (22) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thao |