- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phúc Thanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 585/2022/HSST Ngày 26-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
2. Ông Nguyễn Quang Huy
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Quản Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 623/2022/TLST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 540/2022/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2022, đối với:
- Bị cáo: Lê Phúc Th, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã YH, huyện CM, tỉnh BK
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông: Lê Phúc Th, sinh năm 1971 và con bà Giáp Thị T, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1997, có 2 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 7, phường TL, thành phố TN, tỉnh TN
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 22/9/2022, tổ công tác của Công an phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 7 của phường, phát hiện một nam Th niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 30X4-8529 có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra nam Th niên và mời người chứng kiến việc kiểm tra, nam Th niên khai tên là Lê Phúc Th và tự giác giao nộp cho tổ công tác tại lòng bàn tay trái của Th có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, Th khai nhận đó là ma túy Heroine Th vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Th có khối lượng là: 0,207 gam và niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1509/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,207 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Phúc Th khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, Th điều khiển xe mô tô BKS 30X4-8529 đi từ nhà đến khu vực phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, Th gặp và mua của 02 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đ ng. Mua xong, Th cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái r i điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 7, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên thì Th bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T1 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu gửi giám định; 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T2 bên trong chứa vỏ bao mẫu vật ban đầu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 30X4-8529, số máy: 5B96-095470, số khung: RLCJ5B960-99095467. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 614/CT-VKSTPTN, ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Phúc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 614/CT-VKSNDTP ngày 28/11/2022 đối với bị cáo, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Phúc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Phúc Th mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đ ng đến 6.000.000 đ ng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu T1,T2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 30X4-8529, số máy: 5B96-095470, số khung: RLCJ5B960-99095467.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội và thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Phúc Th tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. Hội đ ng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào h i 10 giờ 40 phút, ngày 22/9/2022, tại khu vực tổ 7, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Lê Phúc Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,207 gam ma túy loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngu n gốc số ma túy trên theo Th khai là mua của hai người đàn ông không quen biết tại khu vực tổ 7, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 200.000đ.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,207 gam ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Lê Phúc Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 614/CT-VKSTPTN ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.
...
c) Heroin…..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, tuổi đời còn trẻ không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân mà đi vào con đường nghiện ngập, phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là“Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS. Nên khi lượng hình HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đ ng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Ngu n gốc số ma túy loại Heroin, Lê Phúc Th khai mua của hai người đàn ông không quen biết (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực tổ 7, phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định hai người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
. Vật chứng vụ án:
Các bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 30X4-8529, nhãn hiệu YAMAHA số loại JUPITER đăng ký xe mang tên Phùng Tất Ư, sinh năm 1983 ở PĐ, BV, HN. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là của bị cáo do bị cáo mua ở một cửa hàng xe máy cũ ở thị trấn Đ ng Tâm, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo không nhớ rỡ tên của hàng. Quá trình điều tra anh Phùng Tất Ư xác định chiếc xe mô tô trên đăng ký mang tên anh do không có như cầu sử dụng nên anh đã bán nhưng anh không nhớ thông tin của người mua. Chiếc xe mô tô này bị cáo đã dùng vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng phạm tội không vì mục đích lợi nhuận nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phúc Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Phúc Th 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T1 (bên trong chứa 0,187 gam mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định), mặt sau có các dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của Nguyễn Minh Th.
+ 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T2 (bên trong có chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu) mặt sau có các dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT – Công an thành phố Thái Nguyên và chữ ký của các thành phần tham gia.
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 xe mô tô đã qua sử dụng, biển kiểm soát 30X4-8529, loại xe hai bánh từ 50-175Cm3, nhãn hiệu YAMAHA, số loiaj JUPITER, dung tích 110, số máy 5B96-095470, số khung RLCJ5B960-99095467.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 200, ngày 12/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Phúc Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu h sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |