vanban.org

Bản án 582/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu L.

Chị Nguyễn Thị Diệu L được ly hôn anh Phạm Quốc Nam A. Con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Phạm Quốc Nam A có 01 con chung là Phạm Vương Quốc Jason A (nam), sinh ngày 09/5/2015. Giao con chung cho chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 582/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-7-2023
V/v: tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Lệ Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Minh Phương

2. Ông Trương Thế Khôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/02/2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu L - sinh năm 1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phố K, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội; cư trú tại: tập thể N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội (có mặt);

- Bị đơn: Anh Phạm Quốc Nam A - sinh năm 1985; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: phố K, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Diệu L trình bày:

Chị và anh Phạm Quốc Nam A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/12/2012 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Trong quá trình chung sống, anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hiểu nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Ngoài ra, do tính cách gia trưởng nên anh A hay đánh vợ và đã từng có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Tháng 3/2019, anh A đánh chị chảy máu mắt phải nhập viện, có lần anh A đánh chị bị gãy răng. Thời gian gần đây, tháng 5/2022, anh A đánh chị bầm dập khắp người. Những lần anh A đánh chị, do là vợ chồng nên chị không khám chứng thương và không yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý đối với anh A. Từ tháng 6/2022 đến nay, chị và anh A sống ly thân mỗi người một nơi, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Anh chị đã được gia đình hoà giải, bản thân chị đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.

Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Quốc A.

- Con chung: Chị L xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Phạm Vương Quốc Jason A (nam), sinh ngày 09/5/2015. Ly hôn, chị xin nuôi con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài các yêu cầu trên, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Bị đơn - anh Phạm Quốc Nam A: Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh A đều vắng mặt, không đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa:

Chị Nguyễn Thị Diệu L giữ nguyên các ý kiến về việc ly hôn, về con chung, về tài sản chung và về nợ như chị đã trình bày nêu trên.

Anh Phạm Quốc Nam A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Diệu L có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị và anh Phạm Quốc Nam A. Anh A có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu L đối với anh Phạm Quốc Nam A. Con chung: Xác nhận chị L và anh A có 01 con chung là: Phạm Vương Quốc Jason A (nam), sinh ngày 09/5/2015; giao con chung của anh chị cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh A. Tài sản chung: chị L không yêu cầu giải quyết nên không xét. Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Dành quyền khởi kiện đối với yêu cầu về chia tài sản chung và giải quyết công nợ chung của vợ chồng cho anh A nếu có yêu cầu. Án phí: Chị L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự: Anh Phạm Quốc Nam A có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chị Nguyễn Thị Diệu L có đơn xin ly hôn anh Phạm Quốc Nam A tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt trực tiếp và niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh A; anh A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Phạm Quốc Nam A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/12/2012 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội. Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh A là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự trong vụ án thấy: Quá trình chung sống vợ chồng của chị L và anh A có phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc, anh chị đã có thời gian dài sống ly thân mỗi người một nơi.

Điều 19 Luật Hôn nhân nhân và gia đình quy định: “vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Anh chị đã sống ly thân, không quan tâm, không chăm sóc, không có sự yêu thương, cảm thông dành cho nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh A đến Toà để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự và tham gia hoà giải theo quy định của pháp luật nhưng anh A đều vắng mặt. Xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì anh chị không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; nhận định của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, do vậy, căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu L. Anh A không đến Toà thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, không đưa ra ý kiến, quan điểm gì nên không có căn cứ để xem xét.

Con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chị L và anh A có 01 con chung là Phạm Vương Quốc Jason A (nam), sinh ngày 09/5/2015. Tại đơn trình bày ngày 15/3/2023, cháu A xác định: “lúc trước cháu sống với bố mẹ cháu, bố mẹ cháu hay cãi nhau và không hạnh phúc, cháu và mẹ đã ra ở riêng, hai mẹ con sống với nhau hơn một năm nay; nếu bố mẹ cháu chia tay cháu vẫn mong muốn sống với mẹ như bây giờ”. Chị L khẳng định chị đang có việc làm và có mức thu nhập ổn định khoảng 20.000.000 – 30.000.000 đồng/tháng nên có đủ điều kiện để nuôi con. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị L. Do anh A vắng mặt và chị L không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh A.

Tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị Diệu L và anh A được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu L.

Chị Nguyễn Thị Diệu L được ly hôn anh Phạm Quốc Nam A.

2. Con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị Diệu L và anh Phạm Quốc Nam A có 01 con chung là Phạm Vương Quốc Jason A (nam), sinh ngày 09/5/2015. Giao con chung cho chị Nguyễn Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu cầu anh Phạm Quốc Nam A cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Quốc Nam A được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Diệu L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

5. Án phí: Chị Nguyễn Thị Diệu L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0071476 ngày 22/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Chị Nguyễn Thị Diệu L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Quốc Nam A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ