vanban.org

Bản án 581/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Tuyết Trinh

Công nhận bà Trần Tuyết Trinh, sinh ngày 04/02/1992 là con chung của ông Lê Ngọc Sơn và bà Võ Thị Kim Huyên. Bà Trần Tuyết Trinh có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký khai sinh, cải chính hộ tịch theo quy định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác nhận cha mẹ cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Tuyết Trinh
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
Thành phố Hồ Chí Minh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 581/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17-6-2021
V/v tranh chấp xác nhận cha, mẹ
cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNHPHỐ HỒ CHÍMINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Lê Thị Mộng Nghi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý-Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2021 tại tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 535/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp xác định cha, mẹ cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Tuyết Trinh, sinh năm 1992

Địa chỉ: 73/1Đ, ấp Xuân Thới Đông 2, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn:

- Ông Lê Ngọc Sơn, sinh năm 1960

Địa chỉ: 29/4A, khu phố 6, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bà Võ Thị Kim Huyên, sinh năm 1964

Địa chỉ: 73/1Đ, ấp Xuân Thới Đông 2, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Đức Thụy, sinh năm 1968

- Bà Võ Thị Kim Dung, sinh năm 1966

Cùng địa chỉ: 40/3E2, ấp 3, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/5/2021 và trong quá trình xét xử vụ án thì lời trình bày của nguyên đơn Bà Trần Tuyết Trinh như sau:

Theo giấy khai sinh số 31 quyển 01/92 ngày 12/3/1992 của Ủy ban nhân dân xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Trinh là con chung của ông Trần Đức Thụy và bà Võ Thị Kim Dung.

Sau này, bà Trinh mới được biết ông Thụy và bà Dung không phải là cha mẹ ruột của bà Trinh. Cha mẹ ruột của bà Trinh là ông Lê Ngọc Sơn và bà Võ Thị Kim Huyên.

Nay, bà Trinh muốn nhận lại cha mẹ ruột. Vì vậy, bà Trinh yêu cầu công nhận ông Sơn và bà Huyên là cha mẹ ruột của bà Trinh.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn ông Lê Ngọc Sơn như sau:

Vào năm 1991, ông Sơn có quan hệ tình cảm với bà Võ Thị Kim Huyên và có 01 con chung là bà Trần Tuyết Trinh. Do gia đình hai bên không đồng ý nên bà Huyên có nhờ vợ chồng em gái của bà Huyên là ông Trần Đức Thụy và bà Võ Thị Kim Dung đứng tên khai sinh cho bà Trinh.

Nay bà Trinh đã trưởng thành, muốn nhận lại cha mẹ ruột thì ông Sơn đồng ý.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn bà Võ Thị Kim Huyên như sau:

Về lời trình bày của ông Lê Ngọc Sơn về thời gian và quá trình chung sống và con chung là đúng. Vì vậy, bà Huyên cũng đồng ý với yêu cầu của bà Trần Tuyết Trinh.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Trần Đức Thụy như sau:

Bà Trần Tuyết Trinh là con chung của ông Lê Ngọc Sơn và bà Võ Thị Kim Huyên. Ông Sơn và bà Huyên có quan hệ tình cảm nhưng không được gia đình đồng ý. Vì vậy, khi bà Huyên sinh con là bà Trinh thì ông Thụy và bà Dung đã đem về nuôi dưỡng và khai sinh là con chung.

Nay bà Trinh đã trưởng thành, muốn nhận lại cha mẹ ruột thì ông Thụy đồng ý

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Kim Dung như sau:

Về lời trình bày của ông Trần Đức Thụy là đúng. Vì vậy, bà Dung cũng đồng ý với yêu cầu của bà Trần Tuyết Trinh

Đại diện Viện kiểm sát huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: về thẩm quyền thụ lý vụ án, về xác định tư cách tố tụng, về thu thập chứng cứ, về thủ tục hòa giải, về thời hạn chuẩn bị xét xử, về thời gian gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, về thủ tục cấp tống đạt cho đương sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa Bà Trần Tuyết Trinh và ông Lê Ngọc Sơn, bà Võ Thị Kim Huyên là Tranh chấp xác định cha, mẹ cho con. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn hiện đang cư trú tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ông Sơn và bà Huyên có thời gian sống chung từ năm 1991. Ông Sơn và bà Huyên chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống ông Sơn và bà Huyên có với nhau 01 con chung: Trần Tuyết Trinh, sinh ngày 04/02/1992. Do gia đình hai bên không chấp nhận nên bà Huyên đã đề cho vợ chồng em gái của bà Huyên là ông Trần Đức Thụy và bà Võ Thị Kim Dung đứng khai sinh cho bà Trinh. Theo kết luận giám định ngày 27/5/2021 của Viện công nghệ sinh học thì ông Sơn và bà Trinh có quan hệ huyết thống cha-con; bà Huyên và bà Trinh có quan hệ huyết thống mẹ-con. Vì vậy yêu cầu của bà Trinh là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28; 35; 39; 48; 63; 184; 186; 188; 203; 205; 227; 228; 235; 244; 264; 266; 271 và 273 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản Điều 88, Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 10 và 27 cùng các danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Tuyết Trinh

Xử:

1. Công nhận bà Trần Tuyết Trinh, sinh ngày 04/02/1992 là con chung của ông Lê Ngọc Sơn và bà Võ Thị Kim Huyên.

Bà Trần Tuyết Trinh có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký khai sinh, cải chính hộ tịch theo quy định.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Trần Tuyết Trinh chịu được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Trần Tuyết Trinh đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0075154 ngày 19/5/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Trần Tuyết Trinh đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ