- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hđ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 580/2019/DS-ST Ngày: 22-11-2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Dung;
2. Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2019/TLST- DS ngày 12 tháng 8 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2019/QĐXXST-DS ngày 16/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 181/2019/QĐST - DS ngày 04/11/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Trụ sở: Đường N, Phường T, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh D, GUQ số 374/2019/GUQ-CNQ5 ngày 11/7/2019 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn P, sinh năm 1958.
(Vắng mặt lần 2 không có lý do)
Địa chỉ: Đường L, Phường M, Quận M, Tp. Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2019 và bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 01/7/2015, Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) có ký với ông Đặng Văn P hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông P, ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để tiêu dùng cá nhân; lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng: 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 30/6/2016, ông Đặng Văn P chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền 31.099.000 đồng. Sau đó, ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nữa. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, yêu cầu ông P trả nợ nhưng ông không trả. Do ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 30/9/2016 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu thành nợ quá hạn.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc ông Đặng Văn P trả cho ngân hàng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 22/11/2019 với lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng. Cụ thể:
- Nợ gốc: 11.300.120 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 13.945.904 đồng.
Tổng cộng: 25.246.024 (hai mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bốn) đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Đặng Văn P nhưng bị đơn không nộp văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án lần nào. Tòa án cũng đã tiến hành hai phiên hòa giải nhưng không hòa giải được. Tại phiên tòa hôm nay, dù đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt xét xử lần 2 hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét thấy nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Đặng Văn P phải trả tiền đã vay theo hợp đồng thẻ tín dụng, đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Mặt khác, bị đơn cư trú tại Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh nên theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng:
2.1 Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng xác định ông Đặng Văn P có sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S để tiêu dùng cá nhân.
2.2 Căn cứ vào tóm tắt sao kê của Ngân hàng cho thấy ông P đã thanh toán 31.099.000 đồng. Từ tháng 07/2016, ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ Điều 2, Điều 23 bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển nợ quá hạn đối với dư nợ còn thiếu của ông P là có cơ sở.
2.3 Theo quy định tại khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật. Căn cứ tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thì lãi suất đối với thẻ tín dụng là 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn nên có cơ sở chấp nhận mức lãi suất như trên.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Văn P phải trả cho Ngân hàng nợ gốc: 11.300.120 đồng; nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 22/11/2019: 13.945.904 đồng là có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn ông Đặng Văn P phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 3 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 463; Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Đặng Văn P phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/11/2019 của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 01/7/2015 là 25.246.024 (hai mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 11.300.120 (mười một triệu ba trăm nghìn một trăm hai mươi) đồng; nợ lãi: 13.945.904 (mười ba triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm lẻ bốn) đồng.
Thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
2. Về án phí: Ông Đặng Văn P phải chịu án phí sơ thẩm là 1.262.301 (một triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm lẻ một) đồng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 579.522 (năm trăm bảy mươi chín nghìn năm trăm hai mươi hai) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0017666 ngày 07/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Chi cục THADS Q10; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Hiếu Hạnh |