- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn H - vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “ Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:58/2026/HSST Ngày: 20-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Ninh - Bà Triệu Thị Tình
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: ông Lương Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2026/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Đào Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày 11/5/1980, tại Thái Nguyên, giới tính: Nam, nơi thường trú: xóm B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Đào Xuân T và bà: Vũ Thị D; vợ: Hoàng Thị V, có 02 con chung; tiền sự: không
Tiền án: 01 - Tại bản án số 28/2025/HSST ngày 05/03/2025 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (nay là khu vực 6 -Thái Nguyên) xử phạt 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
Nhân thân: Tại Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 19/04/2024 Đội kiểm lâm CDD và PCCCR Chi cục Kiểm lâm T1 xử phạt 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng) về hành vi “Mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép” thi hành xong ngày 20/4/2024
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2026 đến nay, hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hoàng Thị V, sinh năm 1982
Nơi thường trú: xóm B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Người làm chứng: ông Phạm Văn B, sinh năm 1979, nơi thường trú: Thôn X, xã L, tỉnh Phú Thọ, nơi ở: Thôn C, xã L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
Người chứng kiến: Anh Phùng Đức D1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/10/2025, Đào Văn H một mình điều khiển xe ôtô tải BKS: 88B-061.21 mục đích đi tìm mua gỗ để sử dụng cho gia đình, khi đi đến khu vực xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên đã gặp và mua của một người nam giới không rõ tên địa chỉ cụ thể 05 khúc gỗ tròn loại gỗ Dẻ có nguồn gốc tự nhiên, tổng khối lượng khoảng 2 m3 đang để ven đường với giá 3.000.000đ, số gỗ không có giấy tờ thủ tục theo quy định của pháp luật để chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Sau khi giao dịch xong, H chuyển toàn bộ số gỗ vừa mua được lên thùng xe ôtô tải BKS: 88B-061.21 rồi vận chuyển về nhà, khi điều khiển xe đến thôn K, xã P, tỉnh Thái Nguyên thì gặp tổ công tác của Hạt Kiểm lâm số 11 thuộc Chi Cục Kiểm lâm tỉnh T1 phối hợp với Công an xã P kiểm tra hồi 01 giờ ngày 16/10/2025. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện xe ôtô tải BKS: 88B-061.21 vận chuyển 05 khúc gỗ tròn nhóm V, khối lượng: 1,908 m3 không có hồ sơ tài liệu chứng minh, nguồn gốc hợp pháp theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản. Tổ công tác tiến hành niêm phong toàn bộ số gỗ trên trong thùng xe ôtô BKS 88B-061.21, tạm giữ phương tiện, số lượng gỗ và xác minh theo quy định.
Tại Kết luận Giám định tư pháp trong lĩnh vực giám định Lâm nghiệp số 1344-2025/KLGĐ-LNNĐ ngày 16/12/2025 của V1 Nhiệt đới xác định:
- Tổng khối lượng của 05 khúc gỗ là 1,908 m³.
- Tất cả 05 mẫu gỗ giám định đều đồng nhất một chủng loại gỗ có tên Việt Nam: Cà ổi bắc bộ (Dẻ gai); tên khoa học: C. Gỗ Cà ổi bắc bộ (Dẻ gai) (C) được xếp nhóm V trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành kèm theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ L - nay là Bộ N. L1 (Dẻ gai) (C) không có tên trong “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Bộ N quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm; nuôi động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp…”
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐG ngày 25/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự xã Đ kết luận: 05 khúc gỗ nhóm V có đường kính từ 25cm đến 50cm khối lượng 1,908m³ tại thời điểm 25/12/2025 có trị giá là 4.770.000 đồng.
Cáo trạng số 59/CT-VKSKV4 ngày 07 tháng 04 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên truy tố bị cáo Đào Văn H về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đã mua số lượng gỗ không có giấy tờ hợp pháp trên đường vận chuyển về nhà bị tổ công tác của Hạt Kiểm lâm số 11 thuộc Chi Cục Kiểm lâm tỉnh T1 lập biên bản bắt quả tang như nội dung bản cáo trạng tuy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên luận tội bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn H từ 9-12 tháng tù.
Áp dụng Điều 56, Điều 65 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án số 28/2025/HSST ngày 05/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tổng hợp hình phạt chung cho 2 bản án theo quy định pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe ô tô tải thùng kín, nhãn hiệu Huyndai, số loại porter, 05 khúc gỗ ký hiệu từ I1 đến I5 và tịch thu tiêu huỷ 05 mẫu vật gỗ hoàn sau giám định.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì, tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[1.2] Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 00000063 do Công an tỉnh V cấp ngày 08/4/2025 cho chủ xe Phạm Văn B biển số đăng ký 88B-061.21 là giấy tờ có giá trị pháp lý, gắn liền với quyền sở hữu tài sản của công dân, cơ quan điều tra tiến hành thu giữ đồng thời với xe ô tô tuy nhiên không chuyển sang kho vật chứng để bảo quản mà lưu giữ theo hồ sơ vụ án là chưa đảm bảo quy định Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát rút kinh nghiệm tránh xảy ra vi phạm tương tự.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc, phù hợp với vật chứng thu giữ và Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp của V1 Nhiệt đới. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 15/10/2025, Đào Văn H đã mua của một người nam giới không rõ tên địa chỉ 05 khúc gỗ tròn loại gỗ Dẻ có nguồn gốc tự nhiên, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc với tổng khối lượng khoảng 2m3 đang để ven đường thuộc xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên với giá 3.000.000đ sau đó sử dụng xe ô tô tải BKS: 88B-061.21 vận chuyển về nhà đến khu vực xóm K, xã P, tỉnh Thái Nguyên thì gặp Tổ công tác của Hạt kiểm lâm S kiểm tra thu giữ toàn bộ vật chứng.
[3] Với hành vi điều khiển xe ôtô 88B-061.21 vận chuyển 05 khúc gỗ tròn nhóm V, khối lượng: 1,908m³ không có hồ sơ vận chuyển và không có nguồn gốc hợp pháp trên đường về nhà thì bị bắt giữ hồi 01 giờ ngày 16/10/2025, đồng thời bị cáo đang chấp hành hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” theo bản án số 28/2025/HSST ngày 05/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Như vậy, hành vi của bị cáo Đào Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự, do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác, vận chuyển, lưu thông và thương mại lâm sản, gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan chức năng và làm gia tăng tình hình tội phạm tại địa phương. Bản thân bị cáo năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi tàng trữ, vận chuyển gỗ tự nhiên tuy thuộc nhóm thông thường nhưng không có hồ sơ lâm sản, giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý trực tiếp do đó cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã hiến đất, tài sản trên đất làm đường liên thôn và tích cực tham gia ủng hộ các quỹ và phong trào được địa phương xác nhận, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Năm 2025, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” bản án đến nay chưa được xóa án tích, tuy nhiên bản án là tình tiết định tội đối với bị cáo nên bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo do đó áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chịu chấp hành hình phạt tù của Bản án số 28/2025/HSST ngày 05/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[6] Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 232 Bộ luật Hình sự bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Xử lý vật chứng:
7.1 Đối với các mẫu gỗ dùng để giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, đối vơi số gỗ thu giữ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
7.2 Đối với xe ô tô tải thùng kín BKS: 88B-061.21, chủ sở hữu anh Phạm Thanh B1, sinh năm 1979, địa chỉ thôn C, xã L, tỉnh Phú Thọ, trong quá trình điều tra anh B1 xác định đã bán cho bị cáo từ tháng 4/2025, anh B1 đã nhận đủ tiền và bàn giao giấy tờ và xe cho bị cáo, nhưng chưa làm thủ tục đổi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định nên không có ý kiến gì. Bị cáo và chị V đều trình bày thống nhất với lời khai của anh B1, do đó xác định vợ chồng bị cáo có toàn quyền sở hữu đối với chiếc xe ô tô trên, tuy nhiên ngày 16/10/2025 bị cáo đã sử dụng xe ô tô để thực hiện hành vi phạm tội căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước, trường hợp giữa bị cáo và chị V có tranh chấp về tài sản có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
7.3 Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 00000063 do Công an tỉnh V cấp ngày 08/4/2025 tịch thu sung ngân sách theo xe ô tô, tuy nhiên giấy tờ trên hiện lưu giữ tại hồ sơ vụ án do đó Hội đồng xét xử chuyển giấy tờ trên cho cơ quan thi hành án quản lý, xử lý theo quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với nguồn gốc số gỗ bị cáo H khai mua của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ ở ven đường thuộc xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên với giá 3.000.000đ quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên chưa có căn cứ xem xét, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.
[11] Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “ Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”
[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đào Văn H 10 (Mười) tháng tù. Chuyển 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 28/2025/HSST ngày 05/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tổng hợp hình phạt của 2 bản án buộc bị cáo Đào Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2026.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Đào Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án
[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
[4.1]Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 khúc gỗ Dẻ gai, ký hiệu I1; Đặc điểm: Chiều dài 2,0m; đường kính 0,37m; khối lượng 0,215m³;
- 01 khúc gỗ Dẻ gai, ký hiệu I2; Đặc điểm: Chiều dài 3,0m; đường kính 0,50m; khối lượng 0,589m³;
- 01 khúc gỗ Dẻ gai, ký hiệu I3; Đặc điểm: Chiều dài 3m; đường kính 0,44m; khối lượng 0,456m³;
-01 khúc gỗ Dẻ gai, ký hiệu I4; Đặc điểm: Chiều dài 2,6m; đường kính 0,42m; khối lượng 0,360m³;
-01 khúc gỗ Dẻ gai, ký hiệu I5; Đặc điểm: Chiều dài 3,0m; đường kính 0,35m; khối lượng 0,288m³;
-01 chiếc xe ôtô tải thùng kín; Nhãn hiệu: HYUNDAI; Số loại: PORTER; Màu sơn: Xanh; Số máy: D4BB7484689; Số khung: RLPRA17BP7T004919; Tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 00000063 do Công an tỉnh V cấp ngày 08/4/2025 mang tên Phạm Văn B.
Ghi nhận Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nêu trên hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử quyết định chuyển giao Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô bản chính số 88 00000063 này cho Cơ quan Thi hành án dân sự khu vực 4 - Thái Nguyên có thẩm quyền để quản lý, xử lý đồng bộ theo xe ô tô bị tịch thu đúng quy định của pháp luật.
[4.2] Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mẫu gỗ Dẻ gai, ký hiệu là I1.2; 01 mẫu (một) gỗ Dẻ gai, ký hiệu là I2.2; 01 (một) mẫu gỗ Dẻ gai, ký hiệu là I3.2; 01 (một) mẫu gỗ Dẻ gai, ký hiệu là I4.2; 01 (một) mẫu gỗ Dẻ gai, ký hiệu là I5.2.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 38/2026 lập ngày 09/4/2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Thái Nguyên).
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đào Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Đào Văn H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 4-Thái Nguyên; - Phòng Hồ sơ Nghiệp vụ CA tỉnh TN; - Phòng THADS khu vực 4-Thái Nguyên; - Trại tạm giam công an tỉnh TN; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu HS,VP (14). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Bích Hiền |