- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nu +Nu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng Mò N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ¸n nh©n d©n KHU VỰC 4 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2026/HSST Ngày 29/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Công Đại
2. Ông: Lý Ngọc Sáng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/HSST, ngày 26 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2026/QĐXXST-HS ngày 16/01/2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vàng Mò N
Sinh năm: 1974, tại tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Tả Phìn, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: La Hủ;
Tôn giáo: Không;
Giới tính: Nữ;
Quốc tịch:Việt Nam
Con ông: Vàng Phí L (đã chết) và con bà: Pờ Nhu T (đã chết).
Gia đình bị cáo có 06 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình;
Chồng, con: Chồng Lỳ Go Gi - sinh năm 1971 và bị cáo có 07 con,con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/09/2025, đến ngày 18/09/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Pờ Xé N
Sinh năm: 1987, tại tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Tả Phìn, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: La Hủ;
Tôn giáo: Không;
Giới tính: Nữ;
Quốc tịch:Việt Nam
Con ông: Pờ Phí Đ (đã chết) và con bà: Ly Mò B (đã chết).
Gia đình bị cáo có 06 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Chồng, con: Chồng Lý Và Hừ - sinh năm 1988 và bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006 (đã chết), con nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/09/2025, đến ngày 18/09/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người phiên dịch cho các bị cáo: Chị Ly Na Me - Sinh năm 2004
Trú tại: Bản Phìn Khò, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Chị Lỳ Gió N - Sinh năm 1996
Trú tại: Bản Láng Phiếu, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
(Vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 08 giờ 20 phút ngày 09/9/2025, Tổ công tác Công an xã Mường Tè đang làm nhiệm vụ tại bản Láng Phiếu, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu, thì phát hiện tại nhà bếp của Lý Gió N (sinh năm 1996) có nhiều người tụ tập, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên tiến hành kiểm tra.
Khi vào kiểm tra, Tổ công tác phát hiện Lý Gió N đang nhóm lửa nấu cơm; Vàng Mò N và Pờ Xé N mỗi người ngồi tại một vị trí khác nhau trong nhà bếp, đang chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy. Tại vị trí Pờ Xé N đang ngồi, Tổ công tác phát hiện, thu giữ trên nền nhà ngay trước mặt Pờ Xé N: 01 mảnh gạch men trên bề mặt có chứa Heroine; 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh dao lam và 01 mảnh kính màu trắng trong.
Tại vị trí trước mặt của Vàng Mò N đang ngồi, Tổ công tác phát hiện, thu giữ: 01 mảnh kính màu trắng, trong trên bề mặt có chứa Heroine cùng 01 gói Heroine bên ngoài được bọc bằng mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng); 01 bật lửa ga màu vàng; 01 mảnh dao lam và 01 mảnh kính màu trắng trong.
Tổ công tác tiến hành kiểm tra trên người các đối tượng Pờ Xé N, Vàng Mò N và Lỳ Gió N, không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định.
Quá trình điều tra xác định: Chiều ngày 08/9/2025, Vàng Mò N và Pờ Xé N mỗi người tự đi đến các khu vực rừng khác nhau thuộc bản Láng Phiếu, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu để lấy măng đem bán; hai người không rủ nhau và không đi cùng nhau.
Đối với Vàng Mò N: Chiều tối ngày 08/9/2025, sau khi lấy măng và trên đường về đến cầu Nậm Khao, thuộc bản Láng Phiếu, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Vàng Mò N bán số măng đã lấy được cho một người đàn ông lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 50.000 đồng, sau đó dùng số tiền này mua 01 gói Heroine bên ngoài được gói bằng nilon màu xanh của chính người đàn ông trên mục đích là để sử dụng cho bản thân. Mua được Heroine, Vàng Mò N cất giấu trong người rồi đi bộ về bản Láng Phiếu để vào nhà con gái là Lỳ Gió N ngủ qua đêm. Khi đi qua cầu Nậm Khao, Vàng Mò N gặp Pờ Xé N là người trú cùng bản Tả Phìn, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.
Đối với Pờ Xé N: Khoảng 18 giờ ngày 08/9/2025, sau khi bán măng xong và trên đường về, khi đến đoạn Quốc lộ 4H thuộc địa phận bản Láng Phiếu, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Pờ Xé N gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua của người này 01 gói Heroine bên ngoài được bọc bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000 đồng. Sau khi mua, Pờ Xé N cất giấu gói Heroine trong người rồi đi bộ về nhà, do muộn, trời đã tối nên Pờ Xé N đi vào bản Láng Phiếu để tìm chỗ ngủ nhờ. Khi đi qua cầu Nậm Khao, Pờ Xé N gặp Vàng Mò N và hai người cùng nhau đi bộ. Trên đường đi Vàng Mò N rủ Pờ Xé N về nhà con gái là Lỳ Gió N ở bản Láng Phiếu để ngủ qua đêm, trên đường đi hai người không nói cho nhau biết việc mình mua và cất giữ Heroine. Khi đến nhà Lỳ Gió N thấy cửa đã chốt, cả hai người đi vào nhà bếp của Lỳ Gió N trải chiếu ngủ qua đêm.
Đến sáng ngày 09/9/2025, Lỳ Gió N mở cửa bếp để nấu cơm thì phát hiện Vàng Mò N và Pờ Xé N đang ngủ trong nhà bếp của gia đình. Vàng Mò N nói với Lỳ Gió N việc đi lấy măng về muộn, không kịp về nhà nên đến ngủ nhờ; Lỳ Gió N không có ý kiến gì và tiếp tục nấu cơm. Trong lúc Lỳ Gió N nấu cơm, Vàng Mò N và Pờ Xé N không xin phép Lỳ Gió N, tự ý lấy Heroine mang theo ra nghiền để sử dụng, mỗi người ngồi ở một vị trí khác nhau. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, khi Vàng Mò N và Pờ Xé N đang chuẩn bị sử dụng Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang. Quá trình thu giữ vật chứng, Tổ công tác đã gom số Heroine trên mảnh gạch men của Pờ Xé N và số Heroine trên mảnh kính màu trắng, trong của Vàng Mò N rồi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ vật chúng thu giữ theo quy định pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 774 ngày 14/09/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Pờ Xé N có khối lượng 0,39 gam là ma túy, loại Heroine. )”. (không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 775 ngày 15/09/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Mò N có tổng khối lượng 0,41 gam là ma túy, loại Heroine. (không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 57/CT-VKS - KV4 ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu đã truy tố các bị cáo Pờ Xé N và Vàng Mò N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
- Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…….
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Pờ Xé N và Vàng Mò N theo nội dung bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ cùng các lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định các bị cáo Pờ Xé N và Vàng Mò N đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" bị cáo Pờ Xé N tàng trữ với khối lượng 0,39 gam Hêrôin bị cáo Vàng Mò N tàng trữ 0,41 gam Hêrôin và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS đối với cả hai bị cáo Pờ Xé N và Vàng Mò N và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).
Về vật chứng của vụ án đề nghị xử lý như sau:
0,41 gam Heroine thu giữ của Vàng Mò N gửi giám định toàn bộ.
0,39 gam Heroine thu giữ của Pờ Xé N gửi giám định toàn bộ.
Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng); 03 mảnh kính màu trắng, trong; 01 bật lửa gas màu vàng; 02 mảnh dao lam; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 mảnh gạch men.
Về phía các bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, các bị cáo thừa nhận việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
*Về lời khai của các bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, các bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, các bị cáo được nghe đọc lại và tự nguyện điểm chỉ và bị cáo Vàng Mò N thừa nhận đã tàng trữ trái phép khối lượng là 0,41 gam Heroine để sử dụng cho bản thân bị cáo. Bị cáo Pờ Xé N thừa nhận đã tàng trữ trái phép khối lượng là 0,39 gam Heroine để sử dụng cho bản thân bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của các bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của các bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ bản kết luận giám định số 774/KL-KTHS ngày 14/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Số chất bột, màu trắng thu giữ của Pờ Xé N có khối lượng 0,39 gam là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”. Bản kết luận giám định số 775/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Số chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Mò N có khối lượng 0,41 gam là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”. Cùng các lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án đã cho thấy: Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 09/9/2025, tại nhà Lỳ Gió N ở bản Láng Phiếu, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Vàng Mò N tàng trữ trái phép 0,41 gam Heroin, Pờ Xé N tàng trữ trái phép 0,39 gam Heroin, đều nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã Mường Tè phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng. Do đó Hội đồng xét xử kết luận cáo bị cáo Vàng Mò N và Pờ Xé N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, không đi học nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo, khó khăn đã được Ủy ban nhân dân xã xác nhận. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không
Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của các bị cáo đã gây ra thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Với khối lượng ma túy 0,39 gam Heroin Pờ Xé N tàng trữ trái phép và 0,41 gam Heroin Vàng Mò N tàng trữ trái phép việc đề nghị của Viện kiểm sát xử phạt các bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. HĐXX xét thấy là có căn cứ, phù hợp cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo: Không
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng gồm:
0,41 gam Heroine thu giữ của Vàng Mò N gửi giám định toàn bộ.
0,39 gam Heroine thu giữ của Pờ Xé N gửi giám định toàn bộ.
Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng); 03 mảnh kính màu trắng, trong; 01 bật lửa gas màu vàng; 02 mảnh dao lam; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 mảnh gạch men.
Số vật chứng trên đã được chuyển cho Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4-Lai Châu theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy các bị cáo lao động tự do các bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định, gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên HĐXX cần xem xét miễn án phí cho các bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các vấn đề liên quan trong vụ án:
- Về nguồn gốc ma tuý:
+ Vàng Mò N khai đã mua Heroine của một người đàn ông, nhưng không rõ nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu không có căn cứ để điều tra làm rõ.
+ Pờ Xé N khai đã mua Heroine của một người đàn ông dân tộc La Hủ, nhưng không rõ nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu không có căn cứ để điều tra làm rõ.
- Quá trình điều tra xác định trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 09/9/2025, Công an xã Mường Tè đã tiến hành test nhanh ma túy đối với Vàng Mò N và Pờ Xé N, kết quả đều dương tính. Tuy nhiên cả Vàng Mò N và Pờ Xé N đều không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nên hành vi của các bị cáo không cấu thành tội “sử dụng trái phép chất ma túy".
- Đối với việc các bị cáo chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Lỳ Gió N: Kết quả điều tra xác định tại thời điểm xảy ra vụ việc, Lỳ Gió N đang nấu cơm; Vàng Mò N và Pờ Xé N tự ý chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà bếp của gia đình Lỳ Gió N không đồng ý, không cho phép Vàng Mò N và Pờ Xé N sử dụng trái phép chất ma túy tại đây. Do đó, việc Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lỳ Gió N về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. “Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết các vấn đề nêu trên”.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) đối với các bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Vàng Mò N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/09/2025.
Tuyên bố bị cáo Pờ Xé N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/09/2025.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo: Không
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng); 03 mảnh kính màu trắng, trong; 01 bật lửa gas màu vàng; 02 mảnh dao lam; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 mảnh gạch men.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND Khu vực 4- Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu (PC03); - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4-Lai Châu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Đức Hiệp |