vanban.org

Bản án 58/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt chị Dương Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn L.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Hồng H, xử cho chị Dương Thị Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Dương Ngọc Á, sinh ngày 05/11/2011 và Nguyễn Dương Tấn T, sinh ngày 21/7/2017 cho chị Dương Thị Hồng H trực tiếp chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "DƯƠNG THỊ HỒNG H- NGUYỄN VĂN L"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt chị Dương Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15/6/2026
“V/v Ly hôn và con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Tuyết và bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nhi - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2026 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/2026/TLST - HNGĐ ngày 01/4/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/5/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Hồng H, sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn R, xã B, tỉnh Quảng Trị - Có đơn xét xử vắng mặt.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn R, xã B, tỉnh Quảng Trị. Hiện sinh sống tại: Tầng B, số F, đường Đ, quận T, thành phố T, Đài Loan - Có đơn xét xử vắng mặt.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Dương Thị Hồng H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và tổ chức lễ cưới theo truyền thống của địa phương. Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã B, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 13/5/2011. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Đến năm 2018, anh L qua Đài Loan xuất khẩu lao động, do công việc bận rộn cũng như bất đồng quan điểm sống nên anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và xảy ra tranh cãi. Mặc dù gia đình hai bên đã cố gắng hoà giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình đã nhiều lần can thiệp nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra ngày càng gay gắt, trầm trọng và kéo dài, anh chị không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 02 con chung tên là Nguyễn Dương Ngọc Á, sinh ngày 05/11/2011 và Nguyễn Dương Tấn T, sinh ngày 21/7/2017. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là mong muốn được nuôi con, yêu cầu anh L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/3/2026 (đã được hợp pháp hoá lãnh sự của Văn phòng K tại Đ) bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: anh và chị Dương Thị Hồng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 13/5/2011. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng hoà thuận sống hạnh phúc. Đến năm 2018, vì điều kiện kinh tế anh xuất khẩu lao động sang Đài Loan làm ăn. Do bất đồng quan điểm, công việc bận rộn nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và xảy ra cải vã. Gia đình nội ngoại hai bên đã cố gắng hoà giải cho vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay, chị H làm đơn xin ly hôn anh cũng đồng ý lý hôn để sớm giải thoát cho cả hai.

Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên là Nguyễn Dương Ngọc Á, sinh ngày 05/11/2011 và Nguyễn Dương Tấn T, sinh ngày 21/7/2017. Nguyện vọng của anh sau khi ly hôn là giao 02 con chung cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng và có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng với chị H mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi các con khôn lớn trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện VKSND Khu vực 1 phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, hai bên đã sống ly thân nên tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, 35, 464, 469 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Hồng H xử cho chị Dương Thị Hồng H được ly hôn với anh Nguyễn Văn L; về con chung: giao 02 con chung là Nguyễn Dương Ngọc Á, sinh ngày 05/11/2011 và Nguyễn Dương Tấn T, sinh ngày 21/7/2017 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị P mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con (1.000.000 đồng/con/tháng) cho đến khi các con trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện chị Dương Thị Hồng H đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn L, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”; anh L có nơi cư trú trước khi xuất cảnh là thôn R, xã B, tỉnh Quảng Trị, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án chị H và anh L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt anh chị H và anh L theo quy định tại Điều 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 13/5/2011 tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hiện tại chị H và anh L ít liên lạc với nhau và không còn quan tâm đến đời sống chung. Tại bản tự khai, đơn giải quyết vắng mặt, chị H và anh L điều thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không tồn tại nên chị H yêu cầu xin ly hôn anh L và anh L cũng đồng ý. Xét thấy tình cảm vợ chồng của chị H và anh L đã hết, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Điều 4 Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chấp nhận đơn khởi kiện của chị H xử cho chị Dương Thị Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn L là phù hợp.

Con chung: Quá trình chung sống chị H và anh L có 02 con chung tên là Nguyễn Dương Ngọc Á, sinh ngày 05/11/2011 và Nguyễn Dương Tấn T, sinh ngày 21/7/2017. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con. Cháu Á và T sống với chị H từ lúc anh L đi nước ngoài, các cháu đều có nguyện vọng là được ở với mẹ và anh L cũng đồng ý giao con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con. Nên căn cứ quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cần giao các con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh L1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị H mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con kể từ tháng 7/2026 cho đến khi các con Á và T lần lượt tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh L1 trình bày không yêu cầu Toà án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Dương Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Các Điều 28, 35, 227, 228, 238, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, xử:

1. Xét xử vắng mặt chị Dương Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn L.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Hồng H, xử cho chị Dương Thị Hồng H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

3. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Dương Ngọc Á, sinh ngày 05/11/2011 và Nguyễn Dương Tấn T, sinh ngày 21/7/2017 cho chị Dương Thị Hồng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L1 có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con với chị H mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/02 con (1.000.000 đồng/01 con/ tháng) kể từ tháng 7 năm 2026 cho đến khi các con Ánh, T lần lượt tròn 18 tuổi. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở. Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không xem xét. 5. Về án phí:

- Án phí ly hôn: Buộc chị Dương Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001183 ngày 30/3/2026 tại thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng để sung vào ngân sách Nhà nước. 6. Quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Dương Thị Hồng H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết. Bị đơn anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ