vanban.org

Bản án 58/2025/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Đặng Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

. Xử phạt: bị cáo Đặng Hoàng G 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. V biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hoàng Giang phạm tội " Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm" - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đặng Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST
Ngày 22 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Mạnh Huy

Bà Lê Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST

- HS ngày 07 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Hoàng G, sinh năm 1993 tại thành phố Hà Nội; nơi cư trú: phòng 48b, nhà B, tập thể G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội (nay là phường G, thành phố Hà Nội); nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đức B và bà Hoàng Thị Bạch V; có vợ Nguyễn Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Đặng Đức B, sinh năm 1955; nơi cư trú: phòng 48b, nhà B, tập thể G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội (nay là phường G, thành phố Hà Nội) - có mặt.

2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001; nơi cư trú: phòng 48b, nhà B, tập thể G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội (nay là phường G, thành phố Hà Nội) - có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Chị Lã Thị H, sinh năm 1994; nơi cư trú: phố T, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (nay là phố T, phường H, tỉnh Ninh Bình) - vắng mặt.

- Người chứng kiến: anh Phan Trọng P, sinh năm 1991 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Hoàng G sinh năm 1993 trú tại nhà B, tập thể G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội làm nghề lao động tự do. Khoảng giữa tháng 4 năm 2025, Đặng Hoàng G dùng tài khoản Facebook “Giang Bớp” liên hệ với một tài khoản Facebook (không nhớ tên tài khoản, số điện thoại) mua 01 bộ da Báo hoa mai có chiều dài từ đầu đến hết phần thân là 150cm, chiều dài đuôi là 70cm, chiều ngang phần rộng nhất là 145cm với giá 250.000.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Sau khi thống nhất việc mua bán, khoảng 3 ngày sau người này nhắn tin cho G hẹn ra khu vực chân cầu vượt P, thuộc phường P, quận N, thành phố Hà Nội lấy bộ da báo, G bắt xe ôm đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi, G thấy một người đàn ông (không rõ tên, tuổi địa chỉ) đứng bên cạnh một thùng bìa các tông. Người này chỉ vào thùng bìa các tông, G đến mở nắp thùng ra kiểm tra thấy bên trong có 01 bộ da Báo hoa mai như thỏa thuận nên trả cho người này số tiền mặt 250.000.000 đồng. Sau đó G mang thùng các tông trong có bộ da B1 về nhà ông Nguyễn Tiến T sinh năm 1979 và bà Nghiêm Thị T1 sinh năm 1978 (là bố, mẹ vợ của G) ở số nhà F, ngõ H, đường C, phường P, quận N, thành phố Hà Nội cất giấu tại gầm giường trong phòng ngủ tầng hai của vợ chồng G. Sau khi mua được bộ da B1, ngày 24/4/2025, G sử dụng tài khoản Facebook“Giang Bớp” đăng bài viết có nội dung “Cần bán nhanh bộ da B1. 0973174109” kèm hình ảnh bộ da Báo hoa mai trên nhóm Hội mua bán đồ rừng quý hiếm mạng xã hội Facebook để tìm người mua, bán kiếm lời. Trưa ngày 26/4/2025, có một người dùng tài khoản Zalo “Phan Quý C” (G không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người này) nhắn tin đến tài khoản Z “Giang Đ” (đăng ký bằng số điện thoại 0973174109 của G) hỏi mua bộ da B1. Sau đó cả hai nhắn tin trao đổi thống nhất giá mua bán bộ da Báo hoa mai là 310.000.000 đồng và thỏa thuận G sẽ chở bộ B1 giao cho người dùng tài khoản “Phan Quý C” vào chiều ngày 03/5/2025 tại thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Ngày 02/5/2025, G nhắn tin số tài khoản 4270343927 mở tại Ngân hàng B2 của G vào tài khoản Zalo “Phan Quý C” yêu cầu đặt cọc số tiền 3.000.000 đồng. Người này đồng ý và nói họ chỉ là người trung gian đặt mua hộ, người mua sẽ chuyển khoản tiền cọc cho G. Đến ngày 03/5/2025, G được người tên LA THI HANG chuyển vào tài khoản của G số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền đặt cọc, G điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-191.17 đến nhà ông T bà T2 bê thùng bìa các tông bên trong có bộ da Báo hoa mai xuống xe ô tô rồi lấy bộ da Báo hoa mai để lên khu vực đựng đồ phía sau xe trong đó một phần phủ lên hàng ghế sau của xe ô tô để mang đến thành phố H, tỉnh Ninh Bình giao cho người mua còn thùng bìa các tông G bỏ vào thùng rác bên đường. Do muốn đưa gia đình về quê ở Hà Tĩnh chơi nên G đã về nhà đón ông Đặng Đức B, sinh năm 1955 (là bố đẻ G), chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001 (là vợ G) cùng 02 con gái G là Đặng Diệu N - sinh năm 2023 và Đặng Nhã L1 - sinh năm 2024 đi cùng. Trên đường G đi đến thành phố H, người có tài khoản zalo“Phan Quý C” gửi định vị địa điểm nhận hàng ở khu vực xã N, thành phố H cho G. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, Đặng Hoàng G đến địa điểm theo chỉ dẫn và dừng xe ở khu vực trục đường liên xã N thuộc thôn K, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình để chờ người mua đến lấy bộ da Báo hoa mai thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã N, thành phố H đang làm nhiệm vụ tại khu vực trên phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ của G 01 bộ da Báo hoa mai có chiều dài từ đầu đến hết phần thân là 150cm, chiều dài đuôi là 70cm, chiều ngang phần rộng nhất là 145cm cho vào bao tải xác rắn niêm phong theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của G 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 biển kiểm soát 38A-191.17 và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 38A-191.17; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Trịnh Thị M; 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Đặng Hoàng G; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0973.174.109 của G, tất cả được niêm phong theo quy định. Sau đó Tổ công tác đã đưa G cùng tang vật về trụ sở Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N để làm việc.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của G tại tập thể G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 03/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh N đã ra Quyết định trưng cầu giám định tại B3 thuộc V1 giám định 01 bộ da thu giữ của Đặng Hoàng G.

Ngày 05/5/2025, B3 kết luận: “Mẫu giám định là loài B1, có tên khoa học P1 pardus.

1) Loài B1 (P2) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/07/2019 của Chính phủ.

2) Loài B1 (Panthera pardus) thuộc Nhóm IB, Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

3) Loài B1 (P2) có tên trong Phụ lục I, D các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C1.

4) Mẫu da Báo hoa mai là bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật”.

Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0973.174.109 thu giữ của G. Kết quả: Tại ứng dụng Zalo có tài khoản đăng nhập là“Giang Đặng”, lưu tin nhắn trò chuyện với tài khoản “Phan Quý C” có nội dung liên đến việc trao đổi mua bán bộ B1, đặt cọc tiền và hẹn địa điểm giao nhận. Kiểm tra ứng dụng Facebook: Trên máy lưu tài khoản “Giang Bớp” có đăng bài viết trên nhóm “ HỘI MUA BÁN ĐỒ RỪNG QUÝ HIẾM” giao bán bộ da Báo hoa mai kèm 01 hình ảnh Báo hoa mai; Kiểm tra thư mục “Ảnh”: Có ảnh G chụp bộ da báo hoa mai để gửi cho người có tài khoản Zalo “Phan Quý C”; Kiểm tra ứng dụng “SmartBanking” số tài khoản ngân hàng là 4270343927, tên chủ tài khoản: DANG HOANG GIANG. Trong phần lịch sử giao dịch có lưu giao dịch vào thời gian 12 giờ 31 phút ngày 03/5/2025, Số tiền giao dịch: 3.000.000đ, Nội dung: “LA THI HANG chuyen tien”. Các nội dung trên đã được chụp ảnh và in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của Đặng Hoàng G đưa vào hồ sơ vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành xác minh và sao kê các giao dịch trong tài khoản số 4270343927 mở tại ngân hàng B2 của Đặng Hoàng G liên quan đến việc nhận tiền cọc của người có tài khoản Zalo “Phan Quý C”, kết quả xác định: tại giao dịch chuyển tiền đến ngày 03/5/2025 có số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản LA THI HANG. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản đối với số tiền 3.000.000 đồng của G theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Hoàng G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 biển kiểm soát 38A-191.17 và 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Trịnh Thị M; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 38A-191.17; 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Đặng Hoàng G: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe ô tô là bà Trịnh Thị M, sinh năm 1935, trú tại xóm S, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (là bà nội của G). Bà M cho ông Đặng Đức B và Đặng Hoàng G mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 03/5/2025, G sử dụng ô tô trên để vận chuyển bộ da B1 về thành phố H, tỉnh Ninh Bình bán kiếm lời, bà M không biết. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại cho bà M 01 xe ô tô, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 38A-191.17 và trả cho Đặng Hoàng G 01 giấy phép lái xe ô tô.

Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKS-P1 ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Đặng Hoàng G về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, áp dụng điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 244 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Đặng Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hoàng G hình phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo G.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Giao cho B3 01 bộ da Báo hoa mai để bảo quản, phục vụ trưng bày cộng đồng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu cam thu giữ của Đặng Hoàng G không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen lắp sim số 0973.174.109 thu giữ của Đặng Hoàng G.

- Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản đối với số tiền 3.000.000 đồng của bị cáo G để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Hoàng G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng hình phạt tiền bị cáo hứa sẽ không vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Hoàng G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; Kết luận giám định của B3 ngày 05/5/2025, B3 kết luận: “Mẫu giám định là loài B1, có tên khoa học P1 pardus. (1) Loài Báo hoa mai (P2) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/07/2019 của Chính phủ; (2)Loài B1 (Panthera pardus) thuộc Nhóm IB, Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; (3) Loài B1 (P2) có tên trong Phụ lục I, D các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C1; (4) Mẫu da Báo hoa mai là bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật” và vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng giữa tháng 4/2025 Đặng Hoàng G lên mạng xã hội Facebook đặt mua 01 bộ da B1 với giá 250.000.000 đồng nhằm mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được bộ da B1, G đã đăng lên nhóm “ Hội mua bán đồ rừng quý hiếm” và bán bộ da Báo hoa mai cho một người đàn ông không quen biết với giá 310.000.000 đồng. Hồi 16 giờ 45 phút ngày 03/5/2025, G điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-191.17 đến trục đường liên xã N thuộc thôn K, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình để giao bộ da Báo hoa mai cho người mua thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N phát hiện, thu giữ. Hành vi nêu trên của Đặng Hoàng G đã phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” thuộc trường hợp “Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Đi u . Tội vi phạm quy định v bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm

“1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấpmột trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...;

b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;

2...;

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo Đặng Hoàng G về tội danh và điều luật như đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường, sinh thái, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến Công ước quốc tế về việc bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp đang có nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh, với mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có bố đẻ là ông Đặng Đức B được Chủ tịch N1 tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất và Huân chương chiến công hạng Nhất; là thương binh loại 3/4. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo và để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục lao động, chăm sóc các con còn nhỏ, bố mẹ đã già yếu.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 244 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

* Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tiền bị cáo đã nhận cọc để bán bộ da loài B1 (số tiền trên bên mua đã chuyển vào tài khoản số 4270343927 mở tại ngân hàng B4 mang tên Đặng Hoàng G). Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản đối với số tiền 3.000.000 đồng. Xét thấy số tiền trên do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản đối với số tiền 3.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

* Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Đặng Hoàng G 01 điện thoại di động Iphone màu đen, lắp sim số 0973.174.109, xét thấy chiếc điện thoại trên bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 Bộ da loài Báo hoa mai đã thu giữ của bị cáo cần chuyển giao cho B3 bảo quản, phục vụ trưng bày giáo dục cộng đồng.

Đối với 01 bảo tải xác rắn màu cam không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về những tình tiết khác của vụ án:

Đối với người bán bộ da Báo hoa mai cho bị cáo Đặng Hoàng G và người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo “Phan Quý C” liên lạc với bị cáo để mua bộ da Báo hoa mai: Do bị cáo G chỉ liên lạc qua mạng xã hội Facebook, Z và không biết họ tên, nơi cư trú, số điện thoại của những người này vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh xử lý.

Đối với tài khoản “LA THI HANG” đã chuyển khoản cho bị cáo G số tiền 3.000.000 đồng: Quá trình điều tra xác định chủ số tài khoản 00328702888 mở tại Ngân hàng TMCP Q là của chị Lã Thị H, sinh năm 1994 trú tại phố T, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Vào chiều ngày 03/5/2025, chị H đang bán hàng tại nhà thì có một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đến mua hàng và đưa cho chị H số tiền mặt 3.000.000 đồng đồng thời nhờ chị H chuyển giúp số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của chị H đến số tài khoản 4270343927 của Đặng Hoàng G. Do chị H không biết mục đích chuyển tiền là gì và không quen biết người đàn ông nhờ chuyển tiền nên không có căn cứ xử lý đối với chị H.

Đối với ông Đặng Đức B, chị Nguyễn Thị L là những người đi cùng xe ô tô BKS 38A-171.91 với G từ thành phố Hà Nội đến thành phố H, tỉnh Ninh Bình: Quá trình điều tra xác định ông B và chị L có hỏi G về bộ da động vật để ở phía sau xe ô tô nhưng G nói là đồ trang trí mang về cho bạn ở Ninh Bình. Ông B, chị L không biết đó là bộ da Báo hoa mai G mua và đang mang đi bán kiếm lời. Về phía ông Nguyễn Tiến T và bà Nghiêm Thị T1 (bố mẹ vợ G) cũng không biết việc G cất giấu bộ B1 tại nhà ông bà. Do đó không có căn cứ xử lý đối với ông B, chị L, ông T và bà T1.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vĩ các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Đặng Hoàng G phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

. Xử phạt: bị cáo Đặng Hoàng G 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

3. V biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

* Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 757/LPT-CSKT ngày 28/05/2025 trong tài khoản 4270343927 tại Ngân hàng TMCP Đ1 mang tên Đặng Hoàng G đối với số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo.

* Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 (một) sim được niêm phong trong 01 phong bì giấy.

- Chuyển giao cho Bảo T3 thiên nhiên Việt Nam 01 (một) bộ da loài B1 để bảo quản, phục vụ trưng bày giáo dục cộng đồng.

(Chi tiết vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/7/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

4. Án phí: Bị cáo Đặng Hoàng G phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ