vanban.org

Bản án 58/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 58, điều 17 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Thị Kim H phạm tội Đánh bạc Xử phạt: Nguyễn Thị Kim H 30.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kim H cùng ĐP - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 58, điều 17 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58 /2025/HSST
Ngày: 24 / 12 / 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Linh và bà Vũ Thị Hương

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 đối với:

1. Nguyễn Thị Kim H, giới tính: Nữ; sinh ngày 03/02/1969, tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, phường H, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 017169004300; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Nguyễn Quang Sơn và mẹ là Bùi Thị Quyền (đều đã chết); có chồng là Lê Mạnh Cường và 02 con (đều đã trưởng thành). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị giam giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 22/9/2025. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

2. Nguyễn Thị L, giới tính: Nữ; sinh ngày 21/11/1968, tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường H, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 017168000236; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Nguyễn Văn Hướng (đã chết) và mẹ là Trần Thị Vân; có chồng là Nguyễn Đắc Tiến và 02 con (đều đã trưởng thành).

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: ngày 14/4/2003 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; ngày 16/2/2004 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; ngày 07/4/2010 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; ngày 28/9/2011 bị tuyên phạt 6 triệu đồng về hành vi đánh bạc.

Bị giam giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 22/9/2025. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà. 3. Nguyễn Thị M, giới tính: Nữ; sinh ngày 08/6/1981, tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố 05, phường H, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 017181004934; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Nguyễn Văn Dậu (đã chết) và mẹ là Đinh Thị Kỳ; có chồng là Đỗ Chí Phúc và 02 con (đều đã trưởng thành). Tiền án, tiền sự: Không. Bị giam giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 22/9/2025. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà. 4. Nguyễn Duy C, giới tính: Nam; sinh ngày 16/10/1964, tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ DP Ngọc 2, phường H, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 001064030312; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Nguyễn Quốc Tế và mẹ là Trần Thị Liên; có vợ là Trịnh Thị La và 02 con (đều đã trưởng thành). Tiền án, tiền sự: Không. Bị giam giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 22/9/2025. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đoàn Thị Huyền, sinh năm 1962; địa chi: Tổ 13, phường H, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 16/9/2025, Nguyễn Thị Kim H rủ Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L đến nhà ăn cơm. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, H rủ M và L đánh bài tú lơ khơ dưới hình thức đánh tá lả được thua bằng tiền. L và M đồng ý. H bảo mọi người cùng đến nhà chị Đoàn Thị Huyền (là nhà chị Huyền nhờ H trông hộ trong thời gian đi chữa bệnh tại Bệnh viện) ở tổ 13, phường Đồng Tiến, thành phố Hoà Bình cũ (nay là phường H) để đánh bạc; trên đường đi, H có mua 02 bộ bài tú lơ khơ. Đến nơi, các đối tượng ngồi trên tấm thảm trong phòng thờ của ngôi nhà để đánh bạc. Khoảng 5 phút sau thì có Nguyễn Duy C đến cùng chơi đánh bạc. Các đối tượng thống nhất cách chơi: Bộ bài gồm 52 quân, được chia cho mỗi người 9 quân, riêng người chia bài được chia 10 quân và được đánh trước, phần còn lại được đặt dưới nọc để bốc. Người về nhì hoặc người ù sau mỗi ván sẽ là người chia bài. Mục tiêu của mỗi người chơi là tạo ra các phỏm, gồm các bộ 3 hoặc 4 quân bài cùng số khác chất, hoặc bộ dây gồm từ 3 quân bài cùng chất liền kề nhau trở lên. Khi người ngồi trước đánh 01 quân bài mà người ngồi liền sau ăn được quân bài đó vào phỏm của mình thì người đó sẽ đánh đi 01 quân trên bài của mình; trường hợp không ăn được, thì người đó bốc 01 quân bài dưới nọc lên và đánh đi 01 quân trên bài của mình cho người kế tiếp. Khi bài của người chơi có 9 quân bài được xếp hết vào các dây cùng chất liền nhau hoặc các bộ cùng số khác chất thì người chơi được “Ù”; trường hợp không có người “Ù” thì mọi người tính điểm các lá bài còn lẻ còn lại, ai có số điểm tổng các quân bài lẻ còn lại thấp hơn là người thắng; bài của ai không có phỏm thì bị tính là “Cháy”. Cách tính tiền thắng thua như sau: Khi không có người “Ù” thì mọi người cùng tính điểm, ai có số điểm thấp nhất sẽ thắng ván bài và được thu của người về nhì 50.000 đồng, người về thứ ba 100.000 đồng, người về thứ tư 150.000 đồng, người bị cháy bị thu 200.000 đồng. Khi có người “Ù” thì người đó thắng ván bài và được thu của mỗi người còn lại 250.000 đồng. Trường hợp tất cả người chơi cùng bị “Cháy” thì thì không có ai thắng ván bài và chia lại ván mới; trường hợp có 1 người chơi có phỏm, những còn lại bị “Cháy” thì người có phỏm được thu của mỗi người còn lại 200.000 đồng. Người chơi nào bị người ngồi sau ăn 3 quân bài trong cùng 1 ván bài thì phải đền làng cho người “Ù” số tiền 750.000 đồng.

Các đối tượng chơi đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Phòng Hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền 6.600.000 đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếc thảm.

Cáo trạng số 23/CT-VKS-KV12 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 truy tố Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M và Nguyễn Duy C về tội Đánh bạc theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 17, điều 35, điều 58, điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng thêm khoản 2 điều 51 BLHS đối với bị cáo L, để xử phạt Nguyễn Thị Kim H từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng; Nguyễn Thị L từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng; Nguyễn Thị M từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng; Nguyễn Duy C từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng, cùng về tội đánh bạc; đề nghị tịch thu số tiền đánh bạc thu được trên chiếu; tịch thu xuất huỷ 02 bộ bài và 01 chiếc thảm.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện liên quan đến hành vi của bị cáo bị truy cứu trách nhiệm trong vụ án này đều hợp pháp. [2] Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận ngày 16/9/2025 đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu được cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn M của xã hội Các Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc đánh bài được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng do coi thường pháp luật và vì mục đích vụ lợi nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo đủ căn cứ để xét xử về tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 322 của Bộ luật hình sự. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo L có anh trai là liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng khi quyết định hình phạt. Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần có hình phạt thoả đáng để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Trong vụ án này, bị cáo H là người khởi xướng việc đánh bạc do đó phải chịu trách nhiệm chính, các bị cáo khác khi được rủ rê đã đồng ý do đó cũng cần có mức hình phạt phù hợp. [4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng

- Số tiền 6.600.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước; 02 bộ bài và 01 chiếc chiếu là vật các bị cáo sử dụng khi đánh bạc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro max và 2.500.000 đồng thu trên người của Nguyễn Thị Kim H; 01 điện thoại hiệu Iphone Xs max thu của Nguyễn Duy C; 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 và số tiền 7.500.000 đồng thu trên người Nguyễn Thị M: Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến tội phạm, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu do đó Toà không đề cập giải quyết.

- Đối với bà Đoàn Thị Huyền là người có địa điểm các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác M nhưng không làm rõ được nên Toà không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 58, điều 17 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Thị Kim H phạm tội Đánh bạc

Xử phạt: Nguyễn Thị Kim H 30.000.000 đồng.

* Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35, điều 58, điều 17 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Thị L phạm tội Đánh bạc

Xử phạt: Nguyễn Thị L 30.000.000 đồng.

* Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 58, điều 17 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Thị M phạm tội Đánh bạc

Xử phạt: Nguyễn Thị M 25.000.000 đồng.

* Căn cứ vào: khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 58, điều 17 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Duy C phạm tội Đánh bạc

Xử phạt: Nguyễn Duy C 25.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu 6.600.000 đồng thu giữ của các bị cáo để sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc thảm và 02 bộ tú lơ khơ 52 quân bài.

(số tiền và các vật chứng trên đang lưu giữ tại Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ có đặc điểm theo giấy nộp tiền ngày 16/12/2025 và biên bản giao nhận vật chứng số 16/BB-GNVC ngày 16/12/2025).

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Mỗi Bị cáo Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị M và Nguyễn Duy C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ