- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày 04/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Quốc Diện
Ông Nguyễn Văn Kiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Lý Khang- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Danh Nguyễn Thúy Quyên- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Ca Văn V, sinh ngày X, tại xã B, tỉnh A; Nơi cư trú: Tổ 7, ấp V, xã B, tỉnh A; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ca Văn Rẩy, sinh năm 1962 và bà Huỳnh Thị Lanh, sinh năm 1964; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ Em, sinh năm 1993 và con ruột sinh năm 2010; Chị em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án:
+ Ngày 31/5/2016, bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 26/2016/HSST, chấp hành án tại Trại giam Kênh 7. Đến ngày 04/8/2017, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích do chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự trong bản án.
+ Ngày 21/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 23/2022/HS-ST, chấp hành án tại Trại giam Kênh 7. Đến ngày 12/02/2024, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ca Văn V là người đã từng có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thông qua bạn bè ngoài xã hội, V biết được người tên Quốc (Chưa xác định được nhân thân) có bán ma túy. Vào khoảng 22 giờ ngày 10/7/2025, khi có nhu cầu sử dụng ma túy, V gọi điện thoại cho Quốc mua 40 số ma túy đá (đơn vị do các đối tượng tự quy ước), Quốc đồng ý bán với giá 2.200.000 đồng. Vững cho Quốc biết địa chỉ nhà và hẹn với Quốc giao ma túy tại nhà của V tại ấp Vĩnh Hòa 2, xã Bình An, tỉnh An Giang. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Quốc đến giao ma túy cho V trong 01 bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ, trả tiền cho Quốc xong thì V đem ma túy vào trong phòng ngủ. Tại đây, V lấy một ít ma túy ra sử dụng, phần còn lại cất giấu trong hộp nhựa ở trong phòng ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 11/7/2025, Công an xã Bình An tiến hành công tác kiểm tra cư trú thì phát hiện Ca Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 11/7/2025 của Công an xã Bình An, tỉnh An Giang kết luận Ca Văn V dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
* Tại Kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 15 tháng 7 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang kết luận:
“Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,9271 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
* Tại Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang kết luận:
“Chất bám dính màu đỏ trên 01 (một) ống thủy tinh gửi đến giám định không phải là ma túy. Mẫu gửi giám định ít không đủ xác định khối lượng”.
* Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
* Về vật chứng:
- 01 bịch nylon chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang. Niêm phong mẫu vật vụ số 985/2025. Có chữ ký họ và tên: Người chứng kiến Võ Thị Thủy Tiên; Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy và đóng dấu màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang.
- 05 ống thủy tinh được niêm phong trong 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang. Niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (Kèm theo Kết luận số 473/KTHS ngày 04 tháng 9 năm 2025). Có chữ ký họ và tên: Người chứng kiến Lâm Ngọc Bằng; Giám định viên Lê Đức Huy và đóng dấu màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSKV3 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang đã truy tố Ca Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Đối với người tên Quốc đã bán ma túy cho Ca Văn V, chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tranh luận và luận tội: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Ca Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Ca Văn V từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang. Niêm phong mẫu vật vụ số 985/2025. Có chữ ký họ và tên: Người chứng kiến Võ Thị Thủy Tiên; Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy và đóng dấu màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang.
- 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh An Giang. Niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (Kèm theo Kết luận số 473/KTHS ngày 04 tháng 9 năm 2025). Có chữ ký họ và tên: Người chứng kiến Lâm Ngọc Bằng; Giám định viên Lê Đức Huy và đóng dấu màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh An Giang.
Bị cáo thống nhất quan điểm tranh luận và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về việc thay đổi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Ngày 27/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang đã phân công Kiểm sát viên Lê Anh Vũ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử theo Quyết định số 13/QĐ-VKSKV3 (BL 120). Ngày 01/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang phân công Kiểm sát viên Danh Nguyễn Thúy Quyên thay Kiểm sát viên Lê Anh Vũ theo Quyết định số 01/QĐ-VKSKV3 (BL 135), nên Kiểm sát viên Danh Nguyễn Thúy Quyên tham gia phiên tòa hôm nay.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Ca Văn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 11/7/2025, tại tổ 7, ấp Vĩnh Hòa 2, xã Bình An, tỉnh An Giang, Công an xã Bình An phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ca Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 bịch ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 3,9271 gam. Nguồn ma túy trên do Ca Văn V mua của một người tên Quốc chưa rõ lai lịch với giá 2.200.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng.
Điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: …
o) Tái phạm nguy hiểm.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với vật chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Ca Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại nguy hiểm cho sức khoẻ của con người và cũng là nguyên nhân phát sinh ra các tệ nạn trong xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành và nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thế nhưng chỉ vì nghiện ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, dấn thân vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo đang gây nên một hệ lụy xấu về tương lai trong giới thanh thiếu niên trẻ ngày nay. Trong tình hình tội phạm về tàng trữ trái phép chất ma túy ngày càng gia tăng và phức tạp như hiện nay, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
5.1. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án chưa được xoá án tích, trong đó có một tiền án về tội “Mua bán trái phép ma tuý”.
5.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
5.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, gia đình (ông ngoại) bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Từ những phân tích nêu trên, trong nghị án, Hội đồng xét xử xem xét hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo để có mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm về tội danh, khung hình phạt, hình phạt, Điều luật áp dụng của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[7] Về đánh giá và xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án thống nhất tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng theo đề nghị của Viện kiểm sát.
[8] Vấn đề khác: Đối với người tên Quốc đã bán ma túy cho bị cáo, chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
1.1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
1.2. Tuyên bố bị cáo Ca Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Ca Văn V 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, bị giam (ngày 11/7/2025).
2.2. Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, tiếp tục tạm giam bị cáo Ca Văn V 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025
Xử: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số: 10/QĐ-VKSKV3 ngày 27/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I của Danh mục án phí thuộc Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
Xử: Buộc bị cáo Ca Văn V phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/12/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 3, tỉnh An Giang; - THAHS tỉnh An Giang (Khi án có hlpl); - Phân trại tạm giam Giồng Riềng cơ sở 3, tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 3, tỉnh An Giang (Khi án có hlpl); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu Hương |