vanban.org

Bản án 58/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phạm Thị U được ly hôn anh Nguyễn Trọng D.

Về án phí: chị Phạm Thị U phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị U đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000190 ngày 30/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị U và anh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phạm Thị U được ly hôn anh Nguyễn Trọng D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24- 9- 2025
V/v ly hôn
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bình

2. Bà Trần Thị Thủy

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Gien Ny- Thư ký Tòa án nhân khu vực 8-Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hưng Yên tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hiền- Kiểm sát viên

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8- Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc: ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị U, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Bùi Việt, xã Diên Hà, tỉnh Hưng Yên

2. Bị đơn: anh Nguyễn Trọng D, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn M, xã N, tỉnh Hưng Yên

(Chị U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh D1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn là chị Phạm Thị U trình bày:

Chị kết hôn tự nguyện với anh Nguyễn Trọng D và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 17/02/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 9/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng; vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã ly thân từ đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn anh D. Chị và anh D có hai con chung là Nguyễn Trọng B, sinh ngày 09/12/2002 và Nguyễn Lưu T, sinh ngày 12/5/2004. Hiện nay hai con chung đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi dưỡng con chung. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Bị đơn là anh Nguyễn Trọng D đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh D không có mặt để tham gia tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa. Kết quả xác minh với mẹ đẻ anh D là bà Vũ Thị L cung cấp: Sau khi kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng anh D, chị U thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng. Chị U đã từng nộp đơn xin ly hôn anh D lên Tòa án nhưng sau đó vợ chồng hòa giải đã rút đơn về. Vợ chồng anh D, chị U đã ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay không liên lạc với nhau. Anh D và gia đình đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng của Toà án nhưng do bận công việc nên anh D không đến Tòa án giải quyết được. Quan điểm của anh D không muốn ly hôn nhưng nếu chị U kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Anh D và chị U có 02 con chung là Nguyễn Trọng B, sinh năm 2002 và Nguyễn Lưu T, sinh năm 2004, đều đã đủ tuổi trưởng thành. Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi dưỡng con chung và tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ hôn nhân: cần xử cho chị U được ly hôn anh D; về quan hệ con chung và quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết. Chị U phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Phạm Thị U xin ly hôn anh Nguyễn Trọng D; anh D có địa chỉ nơi cư trú tại xã N, tỉnh Hưng Yên, căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8-Hưng Yên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị U và anh Nguyễn Trọng D xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 9/2024 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng; vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã ly thân từ đó đến nay. Chị U xin ly hôn, quan điểm của anh D không muốn ly hôn nhưng nếu chị U kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Anh D cũng không đến Tòa án giải quyết, hòa giải để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị U và anh D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị U, xử cho chị U được ly hôn anh D là phù hợp với các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: chị U và anh D có hai con chung là Nguyễn Trọng B, sinh ngày 09/12/2002 và Nguyễn Lưu T, sinh ngày 12/5/2004. Hiện nay hai con chung đã đủ 18 tuổi trưởng thành nên chị U và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi dưỡng con chung.

Về quan hệ tài sản: chị U và anh D đều không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: chị U phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phạm Thị U được ly hôn anh Nguyễn Trọng D.

2. Về án phí: chị Phạm Thị U phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị U đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000190 ngày 30/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: chị Phạm Thị U và anh Nguyễn Trọng D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ