vanban.org

Bản án 58/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Thúy A đối với ông Nguyễn Tuấn A1 về việc “Ly hôn”. Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Thúy A được ly hôn với Nguyễn Tuấn A1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Châu Thị Thúy An kiện Nguyễn Tuấn Anh"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17/12/2025
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Yến Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Sỹ Tiến

2. Ông Vũ Văn Chương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt C – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Châu Thị Thúy A, sinh năm 1994, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 13/01/2023

Địa chỉ: Số D H, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1978, vắng mặt

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 23/09/2022

Địa chỉ thường trú: số E N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ liên hệ: Số D H, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Châu Thị Thúy A trình bày:

Bà Châu Thị Thúy A và ông Nguyễn Tuấn A1 tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 25/10/2019.

Sau khi kết hôn vợ chồng bà A và ông Tuấn A1 chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2024 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, không có sự yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và tự sống ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà A yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A1.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Phạm An K, sinh ngày 10/02/2020. Bà A yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Tuấn A1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Châu Thị Thúy A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Tuấn A1: Tòa án tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Tuấn A1 vẫn vắng mặt nên Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông Tuấn A1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn vắng mặt 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đang cư trú tại phường V và phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không có lý do chính đáng. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Thúy A và ông Nguyễn Tuấn A1 tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 87 ngày 25/10/2019.

Sau khi kết hôn vợ chồng bà A và ông Tuấn A1 chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2024 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, không có sự yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Bà A và ông Tuấn A1 đã sống ly thân từ tháng 11/2024 đến nay.

Kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng bà A, ông Tuấn A1 hiện đang sinh sống và kinh doanh tại địa chỉ số D H, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh cùng con gái là Nguyễn Phạm An K. Quá trình chung sống tại địa phương, tổ dân phố không ghi nhận được thông tin phản ánh nào về việc giữa vợ chồng ông Tuấn A1 và bà Thúy A có xảy ra mâu thuẫn, xô xát, không có yêu cầu hòa giải cơ sở tại địa phương.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Tuấn A1 vẫn vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà A. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà A và ông Tuấn A1 đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài, không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy yêu cầu của bà A xin ly hôn là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Bà Châu Thị Thúy A và ông Nguyễn Tuấn A1 có 01 con chung tên là Nguyễn Phạm An K, sinh ngày 10/02/2020. Bà A yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Tuấn A1 cấp dưỡng nuôi con. Xét cháu K là con gái, tuổi còn nhỏ nên cần giao con cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên công nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Do bà A là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Tuấn A1 không phải chịu án phí.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Thúy A đối với ông Nguyễn Tuấn A1 về việc “Ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Thúy A được ly hôn với Nguyễn Tuấn A1.

2. Về con chung: Bà Châu Thị Thúy A và Nguyễn Tuấn A1 có 01 (một) con chung tên là Nguyễn Phạm An K, sinh ngày 10/02/2020. Bà Châu Thị Thúy A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Châu Thị Thúy A về việc không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn A1 cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Tuấn A1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Châu Thị Thúy A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Châu Thị Thúy A phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023782 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Như vậy, bà Châu Thị Thúy A đã nộp xong án phí. Ông Nguyễn Tuấn A1 không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

6. Về quyền yêu cầu thi hành: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ