vanban.org

Bản án 58/2025/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bị đơn ông Đặng Hoài T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng số tiền tính đến ngày 16/9/2025 là 83.258.645 đồng (tám mươi ba triệu hai trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc 54.775.141 đồng (năm mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi lắm nghìn một trăm bố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC … – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/DSST
Ngày: 16-9-2025
V/v“Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC … - ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và ông Nguyễn Tấn Phát

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2025/TLST-DS ngày 14/5/2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: 2 N, phường X, Tp Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc làm đại diện.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Quách Đình Vũ T, chức vụ: trưởng phòng G theo quyết định ủy quyền số 4180/2023/QĐ-PC ngày 09/10/2023 của Tổng giám đốc; Địa chỉ: C N, phường P, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Hoài T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: A N, phường G, thành phố T, Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S ông Quách Đình Vũ T trình bày: Ngày 25/5/2023 giữa Ngân hàng TMCP S (gọi tắt: Ngân hàng) và ông T1 có ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2733714, theo đó Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất hai bên thỏa thuận 33,2%/năm, thời hạn trả nợ không xác định.

Trong quá trình vay vốn và sử dụng thẻ tín dụng, do ông T1 không trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 05/10/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn là 54.775.141 đồng. Từ ngày 05/10/2024 cho đến nay, nhiều lần Ngân hàng nhắc nhở và yêu cầu ông T1 trả nợ nhưng ông T1 không trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 16/9/2025 ông T1 còn nợ số tiền là 83.258.645 đồng trong đó nợ gốc 54.775.141 đồng, nợ lãi quá hạn 28.483.504 đồng. Vì ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện và yêu cầu ông T1 trả số tiền 83.258.645 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày 16/9/2025 theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi ông T1 trả nợ xong.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Hoài T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng qui định. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Bị đơn ông T1 không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 100,103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 16/9/2025 là 83.258.645 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân không có mục đích kinh doanh là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đặng Hoài T1 có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực ... – Đắk Lắk theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Hoài T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2733714 ngày 25/5/2023 và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 25/5/2023, giữa Ngân hàng TMCP S và bị đơn ông Đặng Hoài T1 có ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2733714 ngày 25/5/2023. Theo đó, Ngân hàng TMCP S có cho bị đơn ông T1 vay số tiền 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất hai bên thỏa thuận 33,2%/năm, thời hạn trả nợ không xác định.

Xét thấy: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2733714 ngày 25/5/2023 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T1 không trả nợ cho Ngân hàng nên ngày 05/10/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn là 54.775.141 đồng. Tính đến ngày 16/9/2025 ông T1 còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền 83.258.645 đồng trong đó nợ gốc 54.775.141 đồng, nợ lãi quá hạn 28.483.504 đồng. Nhiều lần, Ngân hàng yêu cầu ông T1 trả nợ nhưng ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nêu trên.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn ông T1 phải trả cho nguyên đơn số tiền 83.258.645 đồng và tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2733714 ngày 25/5/2023 mà hai bên đã ký kết.

Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Bị đơn ông T1 phải chịu 4.162.932 đồng (83.258.645 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 100,103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bị đơn ông Đặng Hoài T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng số tiền tính đến ngày 16/9/2025 là 83.258.645 đồng (tám mươi ba triệu hai trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc 54.775.141 đồng (năm mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi lắm nghìn một trăm bốn mươi mốt đồng), nợ lãi quá hạn 28.483.504 đồng (hai mươi tám tiệu bốn trăm tám mươi ba nghìn năm trăm lẻ bốn đồng) về khoản tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/9/2025), ông Đặng Hoài T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Về án phí: Bị đơn ông Đặng Hoài T1 phải chịu 4.162.932 đồng (bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn chín trăm ba mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 1.803.000 đồng (một triệu tám trăm lẻ ba nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006054 ngày 12/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực ... – Đắk Lắk)

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ