vanban.org

Bản án 58/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng V.

Buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ phải trả cho bà Huỳnh Thị Hồng V số tiền đã vay là 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng), không yêu cầu trả lãi. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng V về việc yêu cầu anh Nguyễn Thành L phải có nghĩa vụ liên đới cùng chị Huỳn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay giữa chị Huỳnh Thị Hồng V và chị Huỳnh Thị T và anh Nguyễn Thành L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/DS-ST
Ngày: 05/6/2025
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thanh

2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Thế Hiển - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Long Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên tòa

có ông Trần Hoàng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2025/TLST – DS, ngày 20 tháng 01 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 66/2025/TLST-DS, ngày 29 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Hồng V, sinh năm 1967 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 8, xã L, huyện Tam B, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng V có anh Võ Việt T, sinh năm 1993. Địa chỉ: B17.05C/c CitiSoHo, phường L, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy uỷ quyền ngày 17/01/2025) (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có luật sư Phạm Hoài Duy T, sinh năm 1985 của Văn phòng Luật sư Hồng A – Thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: 1. Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1979 (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Thành L sinh năm 1979 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp H, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng V trình bày:

Trên cở sở quen biết nên bà Hồng V có cho chị T và anh L vay tiền và những lần vay tiền cụ thể như sau:

- Ngày 06/3/2023, bà V cho chị T và anh L vay số tiền 200.000.000 đồng với mục đích phục vụ kinh tế gia đình. Việc vay tiền có lập biên bản viết tay ngày 06/3/2023 không có công chứng chứng thực và hai bên thoả thuận lãi suất cho khoản vay này là 3%/tháng.

- Ngày 25/4/2023, bà V có cho chị T và anh L vay 180.000.000 đồng với mục đích phục vụ kinh tế gia đình. Việc vay tiền có lập biên bản viết tay ngày 25/4/2023 không có công chứng chứng thực và hai bên thoả thuận lãi suất cho khoản vay này là 3%/tháng. Sau khi vay tiền thì chị T và anh L đều thoả thuận trong 12 tháng kể từ ngày vay, thì sẽ trả đủ tiền gốc và lãi cho bà V, tuy nhiên đến thời hạn trả tiền thì chị T và anh L liên tục né tránh và không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Bà V có nhiều lần liên hệ để yêu cầu chị T và anh L trả tiền nhưng vẫn không trả.

Nay, bà Huỳnh Thị Hồng V yêu cầu chị Huỳnh Thị T và anh Nguyễn Thành L liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Hồng V số tiền đã vay là 380.000.000 đồng. Bà Huỳnh Thị Hồng V không yêu cầu tính lãi suất đối với khoản vay này. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Toà án đã tống đạt triệu tập hai lần thông báo thụ lý vụ án và thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cho bà Huỳnh Thị T và ông Nguyễn Thành L, đến giải quyết vụ án, đến ngày làm việc chị T anh L không đến. Toà án có tiến hành lấy lời khai người nhà bà T cho rằng chị T anh L có mượn tiền của bà V, nhưng số tiền mượn chỉ 180.000.000 đồng, không phải 200.000.000 đồng, ngoài ra hiện nay chị T, anh L đã đi nước ngoài không có ở địa phương, Toà án có yêu cầu cung cấp địa chỉ của chị T, anh L ở nước ngoài nhưng người nhà không cung cấp được, Toà án có đi xác minh nơi cư trú của chị T anh L Công án xác nhận chị T anh L còn cư trú ở địa phương nhưng không có mặt địa phương. Căn cứ Điều 220, 227 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án quyết định đưa vụ ra xét xử.

Tại phiên toà hôm nay:

Bà Huỳnh Thị Hồng V yêu cầu chị T trả cho bà V số tiền đã vay là 380.000.000 đồng, bà V không yêu cầu trả lãi. Bà V rút lại không yêu cầu anh Nguyễn Thành L cùng liên đới với chị T trả cho bà V số tiền 380.000.000 đồng.

Bị đơn chị Huỳnh Thị T vắng mặt lần 2.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ:

- Về tố tụng:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách người tham gia tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ 26, 35, 39, 147, 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466 , 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị Hồng V

Buộc bà Huỳnh Thị T có trách nhiệm phải trả cho bà số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng).

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc bà V rút lại không yêu cầu anh Nguyễn Thành L cùng liên đới với chị T trả cho bà V số tiền 380.000.000đ.

- Về án phí: Buộc bị đơn chị Huỳnh Thị T phải chịu 19.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Toà án đã tống đạt hợp lệ lần hai chị Huỳnh Thị T đến Toà án xét xử, chị T không đến. Ngày 14/3/2025 Toà án tiến hành lấy lời khai người em của bà Tươi là Nguyễn Thị Tú Nữ, chị Nữ cho rằng chị T, không có ở địa phương đã đi nước ngoài, nhưng không biết được địa chỉ ở nước ngoài. Toà án có đi xác minh nơi cư trú, Công an xã xác nhận chị T còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Thạnh Hưng, xã Hoà Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 quy định “Trường hợp đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là” Đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú”. Trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, nên Tòa án tiến hành thông báo, niêm yết giải quyết vụ án dân sự này theo quy định của pháp luật chị T bỏ đi không thông báo nơi cư trú mới.

Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử đã lập thủ tục niêm yết triệu tập lần hai chị T đến Tòa án xét xử, chị T vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt chị Huỳnh Thị T.

Bà Huỳnh Thị Hồng V yêu cầu chị Huỳnh Thị T trả cho bà số tiền đã vay là 380.000.000 đồng. Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 và chị T, anh L đang thường trú ấp H, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án được quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Bà Huỳnh Thị Hồng V yêu cầu chị Huỳnh Thị T trả số tiền đã vay là 380.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Thể hiện giấy cho vay tiền ngày 06/3/2023 mẫu đánh máy được ký kết giữa bà Huỳnh Thị Hồng V và chị Huỳnh Thị T, có người làm chứng bà Trần Thị Tr, nội dung bà Huỳnh Thị Hồng V đồng ý cho chị Huỳnh Thị T vay số tiền là 200.000.000 đồng. Thời hạn vay 01 năm từ ngày 06/3/2023 đến ngày 06/3/2024, có chữ ký của chị Huỳnh Thị T. Ngày 25/4/2023 bà Huỳnh Thị Hồng V cho chị Huỳnh Thị T vay số tiền 180.000.000 đồng, có viết giấy cho vay đánh máy theo mẫu, nội dung bà Huỳnh Thị Hồng V đồng ý cho bà Huỳnh Thị T vay số tiền là 180.000.000 đồng, thời hạn vay lấy lại trước 01 tháng. Thời gian hoàn trả số tiền vay Bên A thông báo cho bên B trước 30 ngày để bên B thanh toán số tiền đã vay nêu trên, ký tên chị Huỳnh Thị T. Ngày 19/3/2025 Toà án tiến hành lấy lời khai của bà Trần Thị Tr là người làm chứng, bà Tr khai tôi là người bán nước bà V yêu cầu tôi ký tên làm chứng cho chị T mượn tiền bà V, chứ tôi không quen biết bà V. Vào ngày 06/3/2023 tôi có biết bà V có cho chị T mượn tiền số tiền 200.000.000 đồng và một lần 180.000.000 đồng, có làm biên nhận tôi có ký tên, có ông Lâm không tôi không nhớ, tôi xác nhận bà V cho chị T vay hai lần là 380.000.000 đồng, người nhà chị T cho rằng chị T vay 180.000.000 đồng không vay 200.000.000 đồng tôi không biết nhưng tôi ký vào hai biên nhận vay số tiền 380.000.000 đồng. Như vậy việc chị T vay tiền của bà V tổng cộng là 380.000.000 đồng, chị T bỏ đi không trả tiền cho bà V là vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền cho bà V. Vì vậy chị T có trách nhiệm trả cho bà V số tiền 380.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa bà V rút lại không yêu cầu anh Nguyễn Thanh L cùng liên đới với chị T trả cho bà V số tiền 380.000.000 đồng, Vì vậy Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu đối với bà V yêu cầu anh Nguyễn Thành L cùng liên đới với chị Huỳnh Thị T trả cho bà V số tiền 380.000.000 đồng.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, như đã nhận định trên.

Vì những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ phải trả cho bà V số tiền vay là 380.000.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà V yêu cầu anh Nguyễn Thành L cùng liên đới với bà T trả cho bà V số tiền 380.000.000 đồng.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 177, 179, 244, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 470 khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 về Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng V.

Buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ phải trả cho bà Huỳnh Thị Hồng V số tiền đã vay là 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng), không yêu cầu trả lãi.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng V về việc yêu cầu anh Nguyễn Thành L phải có nghĩa vụ liên đới cùng chị Huỳnh Thị T trả cho bà V số tiền 380.000.000đ.

3. Về án phí: Buộc bị đơn chị Huỳnh Thị T phải nộp 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, chị T nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ.

Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Hồng V số tiền nộp tạm ứng án phí là 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001855 ngày 20/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long.

4. Kể từ ngày bên được thi hành án có yêu cầu thi hành án về số tiền, nếu bên phải thi hành án chưa tự nguyện thi hành xong thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Án xử sơ thẩm báo cho các đương sự được biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.

Cỡ chữ