- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Đức S 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật phí và lệ phí Tòa án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2024/HS - ST Ngày: 26/6/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thanh Nga
2. Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn –Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST – HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức S, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C P, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số C P, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe công nghệ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức G, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Lê Thu Đ, sinh năm 1957; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/9/2012 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, (theo Bản án số: 151/2012/HSST ngày 13/9/2012, chấp hành án xong ngày 31/8/2013, đã nộp xong án phí). Bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023. “Có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số C P, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.“ Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, Nguyễn Đức S, điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số đăng ký: 59T1 – 846.90 đi vào hẻm S Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, hẻm liên thông khu vực hẻm S N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực trên S gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 (hai trăm nghìn) đồng ma túy đá, người đàn ông nhận tiền và đưa ma túy cho S. Sau khi giao nhận S xong, S cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe ra đường Đ để đi về. Lúc 17 giờ 40 phút cùng ngày Đội cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an Q phối hợp với Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra địa bàn khi đến trước số E V, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Nguyễn Đức S đang điều khiển xe máy biển số đăng ký 59T1 – 846.90 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của S đang mặc có một gói nylon chứa ma túy nên đưa S cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số : 250/KL – KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 (một) gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đức S và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2577g (không phẩy hai năm bảy bảy gam), loại Methamphetamine.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Đức S, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.
Vật chứng vụ án:
(1). 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đức S và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
(2). 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, bên trong điện thoại có sim số: 0909749451, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Đây là điện thoại cá nhân của Nguyễn Đức S, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án.
(3). 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, gắn biển số đăng ký: 59T1 – 846.90 đã qua sử dụng số khung: JF180X8YY9082, số máy: JF58E-0367015. Qua xác minh xe trên do bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Số C P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 020244, do Công an Thành phố H cấp ngày 25/01/2016. Bà Á là chị ruột của bị cáo Nguyễn Đức S, ngày 20/12/2023 do bà Á đi công việc nhưng xe gắn máy để ở nhà và xe có gắn sẳn chìa khóa nên bị cáo S đã tự ý lấy xe đi mua ma túy, bà Á không hay biết gì về việc bị cáo lấy xe đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định bà Á không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Q đã giao trả lại chiếc xe gắn máy nêu trên cho bà Á.
Tại Cáo trạng số 56/CT –VKSQ4 ngày 29/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức S có lời khai thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra do bà Á không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo S nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng và giao trả lại xe gắn máy cho bà Á nên bà Á không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đức S từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 do bị cáo S có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 20/12/2023, tại trước số E V, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Đức S bị phát hiện và bắt quả tang khi đang cất giữ trong người 0,2577g (không phẩy hai năm bảy bảy gam) ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, nh m mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức S là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu, đã từng đi chấp hành hình phạt tù về tội Cướp giật tài sản, sau khi chấp hành án trở về thì bị cáo đã không thay đổi bản thân để trở thành người tốt có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc để xử phạt bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Ngoài ra, xét bị cáo Nguyễn Đức S có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 dành cho bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Đức S, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Á (là chị ruột của bị cáo S) là chủ sở hữu của chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số đăng ký: 59T1 – 846.90, ngày 20/12/2023 bà Á để xe ở nhà, xe có gắn sẳn chìa khóa nên bị cáo S đã tự ý sử dụng xe đi mua ma túy nên bà Á không hay biết gì. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q có đủ cơ sở xác định bà Á không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo S nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Á, là phù hợp với quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
(1). 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đức S và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, ma túy là chất độc hại không sử dụng được và cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
(2). 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh, bên trong điện thoại có sim số: 0909749451, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Xét, đây là điện thoại cá nhân của S, không liên quan đến hành vi phạm tội nên giao trả lại cho Nguyễn Đức S, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(3). 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, gắn biển số đăng ký: 59T1 – 846.90, số khung: JF180X8YY9082, số máy: JF58E-0367015, xe cũ đã qua sử dụng. Qua xác minh xe trên do bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Số C P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q có đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Ngọc Á không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo S nên đã giao trả lại xe cho bà Á và bà Á đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì khác nên không có gì giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Nguyễn Đức S 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.
Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Đức S và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
+ Giao trả lại cho Nguyễn Đức S: 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh, bên trong điện thoại có sim số: 0909749451, điện thoại cũ đã qua sử dụng, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 86/2024 ngày 25/6/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án:
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức S có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; (1) - Người có QLNVLQ; (1) - CA TP. HCM; (1) - TAND TP. HCM; (1) - Sở Tư pháp TP. HCM; (2) - VKSND TP. HCM; (1) - VKSND Quận 4; (2) - Công An Quận 4; (1) - Trại tạm giam PC-81B (1) - Chi cục THADS Quận 4; (1) - Chi cục THAHS Quận 4; (3) - Lưu VT, hồ sơ. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phƣơng Thúy |