- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc Huy - Sơn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 22 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khương;
Ông Trần Ngọc Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phan Thanh S, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Số 6 T22 Đình Hạ, phường L, quận H, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số 16 C148 phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh N và bà Trần Thị H (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Ánh N (đã ly hôn); vợ hiện nay là Nguyễn Hương Vĩnh H; có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Không, nhân thân: Bản án số 232/2011/HSST ngày 29/12/2011 Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/12/2023, đến ngày 12/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Trần Hữu H, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2000 tại Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Số 20 Trại S, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số 22 Trại S, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Hoài T; có vợ là Nguyễn Huệ C; có 02 con; nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/12/2023; có mặt.
NNhhữữnngg nnggưườờii llààmm cchhứứnngg:: HHooàànngg MMạạnnhh HH;; TTrrầầnn AAnnhh ĐĐ,, ĐĐooàànn HHữữuu PP,, TTrrịịnnhh QQuuaanngg NN,, PPhhạạmm VVăănn HH,, NNgguuyyễễnn VVăănn NN,, ĐĐỗỗ HHồồnngg SS,, NNggôô ĐĐ HH,, TTạạ VViiệệtt AA.. ĐĐềềuu vvắắnngg mmặặtt..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu năm 2022, bị cáo Hoàng Mạnh H nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá qua tài khoản trên mạng internet nên H đã liên lạc với một người nam giới tên D (chưa xác định được lai lịch) và mua tài khoản dùng truy cập vào trang để quản lý chung và cá cược trực tiếp thắng thua cùng người chơi khác, khi có người muốn tham gia cá độ bóng đá H sẽ thông qua bộ phận chăm sóc khách hàng của D để cắt trang (lấy tài khoản khác từ tài khoản chính của H) và chia nhỏ, cung cấp tài khoản, mật khẩu để tham gia đánh bạc bằng hình thức được thua bằng tiền qua mạng internet với các bị can khác. Những người chơi này dùng điện thoại di động đăng nhập vào tài khoản để cá độ, việc thắng thua tùy vào kết quả từng trận bóng đá và hình thức “kèo cá độ” mà người chơi tham gia, tiền cá độ thắng thua được tính theo “điểm” quy ước ra thành tiền. Hàng tuần, H và các con bạc sẽ thống nhất số tiền thắng thua trong trang cá cược để thanh toán trực tiếp với nhau bằng tiền mặt. Hoàng Mạnh H đã từ tài khoản KA3I06 cắt và giao tài khoản KA3I0601 và KA3I0602 giao cho Phan Thanh S, sau đó Phan Thanh S đã đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá được thua qua mạng internet. Cụ thể:
Từ tài khoản KA 3I0602: Phan Thanh S cắt thêm tài khoản KA3I0602008 giao cho Trần Anh Đ, sinh năm 1991; nơi thường trú: 26/3 Hùng Duệ Vương, phường L, quận H, thành phố Hải Phòng để Đ sử dụng trực tiếp cá cược, quy ước số điểm cược giữa S và Đ là 50.000 đồng/ điểm. Ngày 08/5/2022 trong trận đấu U23 Việt Nam và U23 Philippiness thuộc giải bóng đá Seagames 2021, Đ sử dụng điện thoại có kết nối internet tham gia cá cược 200 điểm, Đ thắng 182 điểm. Tổng số điểm Đ đánh trong trận trên là 382 điểm, tương ứng 19.100.000 đồng. Phan Thanh S đã thanh toán tiền thua bạc cho Đ là 9.100.000 đồng, Hoàng Mạnh H đã thanh toán tiền thua bạc cho S là 2.730.000 đồng.
Từ tài khoản KA3I0601, Phan Thanh S đã đưa tài khoản này giao cho Phạm Hoàng H1 với quy ước là 35.000 đồng/điểm để H1 đánh bạc với bị cáo, H1 đã từ tài khoản KA3I0601 cắt ra tài khoản KA3I0601007 và giao cho Trần Hữu H với quy ước 50.000 đồng/ 01 điểm. Ngày 18/4/2022 H đã sử dụng điện thoại có kết nối Internet đăng nhập vào trang web bằng tài khoản KA3I0601007 để tham gia cá cược 06 kèo trong trận bóng đá giữa đội Barcelona và Cadiz với số điểm là 110 điểm, tổng các kèo H thắng 82,4 điểm và thua 3,5 điểm. Tổng số điểm dùng để đánh bạc là 192,4 điểm, tương ứng với số tiền đánh bạc của H với H1 là 9.620.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của S với H1 là 6.734.000 đồng.
Phan Thanh S đã thanh toán tiền thua bạc cho H1 số tiền 2.761.000 đồng (tương đương 78,9 điểm x 35.000 đồng/ điểm). H đã thanh toán tiền thua bạc cho S số tiền 1.183.500 đồng (tương ứng 78,9 điểm x 15.000 đồng/ điểm).
Ngày 01/11/2022 Trần Hữu H ra đầu thú, ngày 04/12/2023 Phan Thanh S ra đầu thú. Cơ quan điều tra đã phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra với bị cáo S để tiến hành điều tra.
Về vật chứng: Không có.
Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSHB, ngày 28/3/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Phan Thanh S khai bị cáo nhận từ Hoàng Mạnh H tài khoản KA3I0601 và KA 3I0602, sau đó từ tài khoản KA 3I0602 S cắt thêm tài khoản KA3I0602008 để giao cho Trần Anh Đ (H, Đ đã bị Tòa án nhân dân quận H xét xử ngày 20/9/2023) để Đ sử dụng trực tiếp cá cược, quy ước số điểm cược giữa S và Đ là 50.000 đồng/điểm. Ngày 08/5/2022 trong trận đấu U23 Việt Nam và U23 Philippiness thuộc giải bóng đá Seagames 2021, Đ tham gia cá cược 200 điểm, Đ thắng 182 điểm. Tổng số điểm Đ đánh trong trận trên là 382 điểm.
Đối với tài khoản KA3I0601, Phan Thanh S đã đưa tài khoản này giao cho Phạm Hoàng H1 với quy ước là 25.000 đồng/điểm để H1 đánh bạc với bị cáo, tại giai đoạn điều tra bị cáo khai quy ước 35.000 đồng/điểm là không đúng, vì lúc đó bị cáo không bình tĩnh nên đã khai như vậy. Nay bị cáo xác nhận lại và khẳng định bị cáo quy ước với H1 là 25.000 đồng/điểm. Bị cáo có quản lý tài khoản KA3I0601007 do H1 đã cắt ra và việc H1 giao tài khoản trên cho ai thì bị cáo không biết. Ngày 18/4/2022 bị cáo cá độ với H1 01 trận qua tài khoản KA3I0601007 với số điểm dùng để đánh bạc là 192,4 điểm x 25.000 đồng/ điểm, tương đương 4.810.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi nghe bị cáo Phan Thanh S trình bày tại phiên tòa cũng như qua phần xét hỏi của Hội đồng xét xử để làm rõ việc khai nhận trên của bị cáo S, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H rút đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thanh S, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H; xử phạt: Phan Thanh S và Trần Hữu H mỗi bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bị cáo Phan Thanh S 15.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
Phạt tiền bị cáo Trần Hữu H 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
Giao bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H cho Ủy ban nhân dân xã, phường nơi các bị cáo đang cư trú để giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về số tiền thu lợi bất chính:
- Buộc bị cáo Phan Thanh S phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước là: 3.913.500 đồng.
- Buộc bị cáo Trần Hữu H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước là: 3.945.000 đồng.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có quan điểm tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, phần lời nói sau cùng, các bị cáo xin được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt tại phiên tòa của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo Hoàng Mạnh H và Trần Anh Đ đã bị xét xử; vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng đầu năm 2022, bị cáo Hoàng Mạnh H nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá qua tài khoản trên mạng internet nên H đã liên lạc với một người nam giới tên D (chưa xác định được lai lịch) và mua tài khoản dùng truy cập vào trang để quản lý chung và cá cược trực tiếp thắng thua cùng người chơi khác, khi có người muốn tham gia cá độ bóng đá H sẽ thông qua bộ phận chăm sóc khách hàng của D để cắt trang (lấy tài khoản khác từ tài khoản chính của H) và chia nhỏ, cung cấp tài khoản, mật khẩu để tham gia đánh bạc bằng hình thức được thua bằng tiền qua mạng internet với các bị can khác. Hoàng Mạnh H đã từ tài khoản KA3I06 cắt và giao tài khoản KA3I0601 và KA3I0602 giao cho Phan Thanh S, sau đó Phan Thanh S đã đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá được thua qua mạng internet. Cụ thể: Ngày 08/5/2022 bị cáo Phan Thanh S cá độ bóng đá với Trần Anh Đ 01 trận qua tài khoản KA3I0602008 với tổng số điểm là 382 điểm x 50.000 đồng/ 01 điểm, tương đương 19.100.000 đồng. Đối với ngày 18/4/2022, tại phiên tòa Phan Thanh S khai cá độ bóng đá với Phạm Hoàng H1 01 trận qua tài khoản KA3I0601007 với tổng số điểm dùng để đánh bạc là 192,4 điểm x 25.000 đồng/01 điểm, tương đương 4.810.000 đồng. Bị cáo Trần Hữu H đã đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá được thua bằng tiền qua mạng internet 01 trận bóng đá vào ngày 18/4/2022 qua tài khoản KA3I0601007 do Phạm Hoàng H1 giao cho với tổng điểm dùng để đánh bạc là 192,4 điểm x 50.000 đồng/ điểm, tương đương 9.620.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Phan Thanh S và bị cáo Trần Hữu H đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
-Về tình tiết định khung hình phạt:
Các bị cáo có hành vi sử dụng điện thoại di động có kết nối internet để tham gia đánh bạc, do đó các bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm c “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội nên phải xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về vai trò: Trong vụ án này, bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H tham gia đánh bạc độc lập với nhau. Các bị cáo đồng phạm với Hoàng Mạnh H trong việc đánh bạc.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H rút truy tố bị cáo Phan Thanh S về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ được chấp nhận, vì hiện nay Phạm Hoàng H1 vắng mặt tại địa phương và theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội các bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H ra Cơ quan Công an đầu thú để khai báo hành vi phạm tội nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngày 20/9/2023, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng đã xét xử đối với bị cáo Hoàng Mạnh H và các bị cáo khác phạm tội “Đánh bạc” và xử phạt bị cáo H mức án 39 tháng tù; các bị cáo khác xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Xét các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền ăn thua không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đang được cơ quan pháp luật cho tại ngoại, trong thời gian tại ngoại các bị cáo không phạm tội nào khác. Do đó, từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15-4-2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho các bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định về tội đánh bạc thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đống đến 50.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên cần phạt bị cáo Phan Thanh S 15 triệu đồng; bị cáo Trần Hữu H 10 triệu đồng để sung quỹ nhà nước.
Về tiền thu lợi bất chính: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Phan Thanh S phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.730.000 đồng + 1.183.000 đồng = 3.913.500 đồng để sung quỹ nhà nước. Bị cáo Trần Hữu H phải nộp 3.945.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
Các vấn đề khác: Đối với Phạm Hoàng H1 hiện vắng mặt tại địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
+ Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H.
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt:
+ Phan Thanh S 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Trần Hữu H: 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Phạt tiền:
+ Bị cáo Phan Thanh S 15.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
+ Bị cáo Trần Hữu H 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
Giao bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H cho Ủy ban nhân dân phường C, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Phan Thanh S và Trần Hữu H thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Phan Thanh S và Trần Hữu H.
2. Về số tiền thu lợi bất chính: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Phan Thanh S phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước là: 3.913.500 đồng. Bị cáo Trần Hữu H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước là 3.945.000 đồng.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
- VKSND TP. Hải Phòng;
- PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
- CA quận H;
- Cơ quan THAHS Công an quận H;
- VKSND quận H;
- Chi cục THADS quận H;
- UBND nơi cư trú của bị cáo;
Trần Thị Quỳnh Như
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
THẨM PHÁN
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Quỳnh Như TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN KIẾN THỤY
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Kiến Thụy, ngày 29 tháng 10 năm 2020
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 9 giờ 50 phút ngày 29 tháng 10 năm 2020;
Tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đình PH
Bà Vũ Thị Quỳ
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Văn Chinh, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1985, tại Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Úc Gián, xã Thuận Thiên, Hện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; nghề ngH1: Lao động tự do.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Kết quả biểu quyết 3/3.
2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp là hợp pháp.
Kết quả biểu quyết 3/3.
3. Về căn cứ kết tội bị cáo: Đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Văn Chinh phạm tội “Đánh bạc”.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Kết quả biểu quyết 3/3.
4.Về mức hình phạt: Vũ Văn Chinh: 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Thuận Thiên, Hện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Văn Chinh theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/2020/QĐ-TA ngày 14 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân Hện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Kết quả biểu quyết 3/3.
5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Kết quả biểu quyết 3/3
6. Về vật chứng, án phí:
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Hện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng)
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
(Theo Biên lai thu tiền số 0005433 ngày 06/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Hện Kiến Thụy)
* Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Vũ Văn Chinh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
7. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
8. Kiến nghị, phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Kết quả biểu quyết 3/3.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Đình PH – Vũ Thị Quỳ
Khúc Trọng Quang
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND Hện Thủy Nguyên; - Công an Hện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS Hện Thủy Nguyên; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - UBND xã Thiên Hương; - Bị cáo, Người tham gia tố tụng; - Hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |