vanban.org

Bản án 58/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Ngọc T.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc T về việc xin được hưởng án treo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt. Xử phạt bị cáo Hà Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Ngọc T phạm tội "Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-PT
Ngày: 18 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng và ông Đặng Chí Công .

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Vân –Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Hà Ngọc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo

Hà Ngọc T (tên gọi khác: T1), sinh ngày 09/02/1982 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T2 và bà Nguyễn Thị Minh T3; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu H và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 20/12/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” (theo Bản án số 170/2005/HS-ST); ngày 17/12/2007, bị cáo thi hành xong nghĩa vụ thi hành án về dân sự; ngày 17/01/2009, được đặc xá trở về địa phương.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20 tháng 3 năm 2024, Hà Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số 50H-054.57 chở 7.480 kg cây củi bời lời đi từ huyện M, tỉnh Gia Lai đến tỉnh Bình Định để giao cho khách. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến Bưu điện thị xã A, Hà Ngọc T phát hiện ống dầu trợ lực tay lái bị nứt làm chảy dầu ra ngoài. Hà Ngọc T tiếp tục điều khiển xe ô tô đến trước quán ăn của bà Nguyễn Thị Xuân N là dì ruột của bị cáo tại Km77+800m Quốc lộ A, thuộc ổ"Tổ 2, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai thì dừng xe ở lề đường bên phải theo hướng đi và có bật đèn chiếu sáng xung quanh xe. Sau đó, Hà Ngọc T và anh Nguyễn Duy B, là con của bà N cùng nhau sửa xe, thay ống nhớt trợ lực tay lái. Sau khi sửa xe xong, T vào quán ăn của bà N để ăn cơm. Đến 21 giờ 52 phút cùng ngày, ông Mai Hồng S điều khiển xe mô tô biển số 81G1-299.17 lưu thông trên Quốc lộ A hướng Gia Lai đi Bình Định đã va chạm vào phía sau bên trái thành thùng của xe ô tô 50H-054.57 đang đỗ. T nghe tiếng va chạm nên chạy ra vị trí đỗ xe ô tô biển số 50H-054.57, thì thấy ông S nằm bất động chảy máu nhiều, do sợ hãi nên T chạy đến vị trí cabin xe ô tô rồi dùng hai tay nâng cabin xe lên, tạo hiện trường như xe đang bị hư hỏng. Sau đó Hà Ngọc T cùng anh Nguyễn Duy B đưa ông S đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã A. Hậu quả: Ông Mai Hồng S tử vong trên đường đưa đi cấp cứu.

Sau khi sự việc xảy ra, lực lượng Công an đang tiến hành bảo vệ hiện trường thì chị Trần Thị Mỹ L điều khiển xe mô tô biển số 81G1-345.61 lưu thông theo hướng Gia Lai đi Bình Định, do không chú ý quan sát đã va chạm vào cọc tiêu bằng nhựa của lực lượng bảo vệ hiện trường, làm chị L và xe mô tô biển số 81G1-345.61 ngã ra đường, chị L bị xây xát da được đưa đến Trung tâm y tế thị xã A điều trị.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định:

Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng thuộc Km77+800m, Quốc lộ A, thuộc ổ"Tổ 2, phường A, thị xã A, Gia Lai. Đoạn đường trên được trải nhựa bằng phẳng rộng 16,0m gồm 04 làn đường áp dụng lưu thông 02 chiều được phân cách bằng vạch sơn kẻ màu vàng đứt quãng. Chiều đường hướng Gia Lai đi Bình Định rộng 7,95m gồm 02 làn đường được phân cách bằng vạch sơn kẻ đường màu trắng đứt quãng. Làn đường tiếp giáp lề đường bên phải hướng Gia Lai đi Bình Định rộng 4,450m. Nơi đây không có chướng ngại vật, biển báo hiệu, cọc tiêu, rào chắn.

Chọn chiều hướng khám nghiệm Gia Lai đến Bình Định, điểm mốc trụ điện 90A. Chọn mép đường phía bên phải tính theo chiều hướng khám nghiệm làm mép đường chuẩn.

(0) Chóp nón màu cam có gắn phản quang đặt trên mặt đường dùng bảo vệ hiện trường. Đo từ tâm (0) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 5,0m, đến đầu vết cày của xe mô tô biển số 81G1-345.61 là 6,250m.

(1) Vết cày dài 3,650m có hướng Gia Lai đến Bình Định. Đo từ đầu (1) đến điểm gần nhất của mép đường ẩn"chuẩn là 5,60m. Đuôi vết nằm ngay dưới gác để chân phía sau bên phải của xe mô tô biển số 81G1-345.61

(2) Xe mô tô biển số 81G1-345.61 nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe quay hướng lề phải, đuôi xe quay hướng lề trái (hướng đi Gia Lai đến Bình Định). Đo từ tâm trục bánh trước (2) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 5,250m, đến vết màu đỏ (dạng máu) là 4,60m. Đo từ tâm trục bánh sau (2) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 6,60m.

(3) Vết màu đỏ (dạng máu) có diện (0,30 x 0,40)m. Đo từ tâm (3) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 1,80m, đến tâm mảnh vỡ nhựa là 1,0m

(4) Vùng mảnh vỡ nhựa có diện (3,250 x 1,90)m. Đo từ tâm (4) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 1,60m, đến tâm trục bánh trước của xe mô tô biển số 81G1-299.17 là 1,750m

(5) Xe ô tô tải biển số 50H-054.57 đứng yên trên mặt đường, đầu xe quay hướng Bình Định, đuôi xe quay hướng Gia Lai. Xe đang đỗ ở vị trí dọc theo lề đường bên phải hướng Gia Lai đến Bình Định. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải (5) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 0,80m, đến điểm mốc là 10,450m. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái (5) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 1,80m, đến điểm mốc là 10,450m. Đo từ tâm trục bánh sau bên phải (5) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 0,60m. Đo từ tâm trục bánh sau bên trái (5) đến tâm trục bánh trước của xe mô tô biển số 81G1-299.17 là 1,0m.

(6) Xe mô tô biển số 81G1-299.17 nằm ngã nghiêng bên trái trên mặt đường, lọt dưới đuôi xe ô tô tải (5) gần vị trí bánh sau bên trái (5). Đầu xe quay hướng lề trái, đuôi xe quay hướng lề phải (tính theo hướng Gia Lai đến Bình Định). Đo từ tâm trục bánh trước (6) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 1,850m. Đo từ tâm trục bánh sau (6) đến điểm gần nhất của mép đường chuẩn là 0,80m, đến điểm mốc là 6,50m.

(7) Vết cày dài 1,20m có hướng Gia Lai đến Bình Định. Đo từ đầu vết (7) đến điểm gần nhất của mép đường ẩn"chuẩn là 1,980m. Đuôi vết cày (7) nằm ngang dưới gác để chân phía sau bên trái của (6).

Quá trình khám nghiệm đã kiểm tra kỹ và mở rộng hiện trường ra xung quanh nhưng không phát hiện thu giữ thêm dấu vết nào.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, xác định:

Xe mô tô biển số 81G1-299.17: Nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn xám đen, số máy: E32VE270128, số khung: RLCUE3720LY051721. Các dấu vết mới để lại trên phương tiện gồm: Gương chiếu hậu bên trái, phải bung rời khỏi vị trí định vị ban đầu; Hộp đèn phía trước bung rời hoàn toàn; Dè chắn bùn phía trước gãy vỡ nhựa diện (0,280 x 0,120)m. Nơi đây có vết trầy xước nhựa diện (0,250 x 0,050)m; Bửng chắn gió phía bên phải bể vỡ nhựa diện (0,20 x 0,250)m; Gác chân trước cong vênh hướng từ mặt đất lên trên; Ốp bảo vệ bên ngoài bộ phận giảm thanh bung rời khỏi vị trí định vị ban đầu; Tay nắm sau đuôi xe bên trái có vết trầy xước kim loại diện (0,0040 x 0,0150)m; Gác để chân (đoạn thanh kim loại gắn cao su) bên trái có vết mài mòn làm sáng bóng kim loại diện (0,0250 x 0,0070)m; Yên xe bung rời khỏi vị trí định vị ban đầu; Đèn chiếu sáng, đèn chiếu xa ở vị trí công tắc bật, đèn báo số D.

Xe ô tô biển số 50H-054.57: Nhãn hiệu JAC, số loại TRA1083K, màu sơn: Bạc, số máy: CA4110125Z00970546, ố"số khung: RRGTT72D4AB000094, tải trọng hàng hóa 6.000 kg. Các dấu vết mới để lại trên phương tiện gồm: Hông cửa xe phía bên tài (bên trái) có bám dính vết màu đỏ (dạng máu) có diện (26,0 x 10,0)cm. Đo từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 1,620m, cao nhất cách mặt đất là 1,80m; T4 cầm nâng cabin đầu xe bám dính vết màu đỏ (dạng máu) có diện (0,70 x 0,050)cm. Đo từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 1,850m, cao nhất cách mặt đất 1,90m; Cản phía sau bảo vệ đuôi xe có diện (1,470 x 0,0780)m, móp lún phía bên trái từ ngoài vào trong, từ sau ra trước, diện móp lún (0,750 x 0,0780)m. Đo từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 0,5780m, cao nhất cách mặt đất là 0,650m. Nơi đây bám dính vết màu đen, xám, đỏ diện (0,160 x 0,0780)m. Đo từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 0,550m, cao nhất cách mặt đất là 0,5650m; Hộp đèn xi nhan, đèn báo hãm phía sau bên trái vỡ nhựa diện (0,0750 x 0,0120)m. Đo từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 0,860m, cao nhất cách mặt đất là 0,970m; Thùng đựng nước phía sau bên trái đuôi xe có vết trầy xước nhựa diện (0,140 x 0,060)m. Đo từ điểm thấp nhất cách mặt đất là 0,560m, cao nhất cách mặt đất là 0,570m; Thùng xe phía sau đuôi bên trái có dính mảnh vỡ nhựa màu đen diện (0,010 x 0,020)m. Đo từ tâm mảnh vỡ đến mặt đất là 1,20m.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu xám đen, số khung RLCUE3720LY051721, số máy E32VE270128, biển số 81G1-299.17 (đã qua sử dụng) bị hư hỏng do tai nạn giao thông, giá trị các hư hỏng tại thời điểm định giá: 760.000 đồng (bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định tư pháp ngày 04/5/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh G về điều kiện an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số 50H-054.57 kết luận: Xe ô tô biển số đăng ký 50H-054.57 tại thời điểm giám định, xe có hệ thống, tổng thành, chi tiết liên kết chắc chắn, đảm bảo tính năng hoạt động, trừ các hư hỏng do tai nạn giao thông.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS - ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hà Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Ngọc T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hà Ngọc T phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho đại diện hợp pháp của bị hại Mai Hồng S với số tiền 170.000.000 đồng. Trong đó: Chi phí hợp lý cho việc mai táng: 50.000.000 đồng; bù đắp tổn thất về tinh thần: 120.000.000 đồng. Bị cáo Hà Ngọc T đã bồi thường 30.000.000 đồng; còn phải bồi thường 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ phải trả lãi khi chậm thanh toán, tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo:

Ngày 30/9/2024, bị cáo Hà Ngọc T có đơn kháng cáo, lý do của việc kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt; mong Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Hà Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Căn cứ khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Ngọc T.

+ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Hà Ngọc T, sửa bản án về phần hình phạt, xử phạt bị cáo Hà Ngọc T 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 18/12/2024).

+ Bị cáo Hà Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại đơn kháng cáo đề ngày 30/9/2024, bị cáo Hà Ngọc T ghi lý do của việc kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, tại mục yêu cầu, bị cáo mong Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết cho bị cáo được hưởng án treo.

Lẽ ra, trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm cần hướng dẫn bị cáo làm lại đơn kháng cáo nêu rõ nội dung kháng cáo hoặc lập biên bản ghi rõ yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại ra Thông báo kháng cáo chỉ với nội dung, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là chưa phù hợp, không đúng yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Mặc dù vậy, đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo nêu rõ yêu cầu kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nên Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo để xét xử phúc thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Ngọc T rút một phần kháng cáo đối với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy việc rút đơn của bị cáo là tự nguyện, không liên quan đến nội dung kháng cáo còn lại nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phần kháng cáo về nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Về hành vi phạm tội, bị cáo Hà Ngọc T khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, Hà Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số 50H-054.57 chở 7.480 kg cây củi bời lời đi từ huyện M, tỉnh Gia Lai đến tỉnh Bình Định. Khi đến Km77+800m Quốc lộ A, thuộc ổ"tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, T điều khiển xe ô tô đỗ ở phần đường bên phải theo hướng đi để sửa xe. T đã đỗ xe không đúng vị trí theo quy định, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe ô tô. Đến 21 giờ 52 phút cùng ngày, ông Mai Hồng S điều khiển xe mô tô biển số 81G1-299.17 lưu thông trên Quốc lộ A hướng Gia Lai đi Bình Định đã va chạm vào phía sau bên trái thành thùng của xe ô tô 50H-054.57 do T đỗ bên lề đường, dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm ông Mai Hồng S chết trên đường đi cấp cứu, xe mô tô 81G1-299.17 bị hư hỏng thiệt hại 760.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Ngọc T đã phạm tội “Viạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Xét sau phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã sử dụng rượu, bia chất có nồng độ cồn, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe chung.

Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo nộp cho Tòa án “Giấy bãi nại dân sự và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” đề ngày 03/12/2024, thể hiện đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường mà bản án sơ thẩm đã tuyên và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; 01 biên lai thể hiện đã thi hành xong phần án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; 01 Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ.

Xét thấy, bị cáo đã thật sự ăn năn, hối cải; tích cực khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra; phát sinh thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định, có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ cho đại diện hợp pháp của bị hại. Vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết trong quá trình thi hành án.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự;

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Ngọc T.

2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc T về việc xin được hưởng án treo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày18/12/2024).

Giao bị cáo Hà Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ