- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ THÙY D - NGUYỄN VĂN Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D. 1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Tân
Bà Nguyễn Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 673/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm: 1982 Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1980 Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Đ chơi bời dẫn đến nợ nần. Năm 2019, chị đã nộp đơn yêu cầu ly hôn nhưng anh Đ hứa sẽ thay đổi bản thân nên chị cho anh một cơ hội sửa chữa. Tuy nhiên, anh Đ không hề thay đổi, vẫn chứng nào tật nấy. Ngoài ra, anh Đ còn có những hành động gây ảnh hưởng đến tâm lý, khiến mẹ con chị cảm thấy sợ hãi. Hiên nay chị không thể tiếp tục sống chung với anh Đ được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Đăng T, sinh ngày: 31/01/2010 và cháu Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 10/5/2011. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.500.000 đồng/cháu, hai cháu là 5.000.000 đồng.
Về tài sản chung: chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.
Chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị D về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.
Cuộc sống chung của anh chị bình thường, không có mâu thuẫn gì lớn, anh vẫn lo lắng làm ăn, tiền bạc lương bổng anh đều giao cho vợ giữ, anh không có mối quan hệ không lành mạnh nào ở bên ngoài. Khoảng một năm trước, anh có chơi bời gây ra nợ nần khiến vợ anh giận. Anh đã biết lỗi lầm của mình và mong được vợ con tha thứ. Anh không đồng ý ly hôn với chị D vì anh còn thương vợ, thương con.
Về con chung: anh chị có 02 con chung như chị D trình bày. Nếu chị D cương quyết ly hôn, các con muốn sống với ai anh sẽ đồng ý với ý kiến của các cháu. Nếu các con ở với chị D, anh đồng ý cấp dưỡng để chị D nuôi con hàng tháng là 5.000.000 đồng/02 con chung.
Về tài sản chung: anh không yêu cầu giải quyết, tạm thời nhà cửa anh sẽ để cho mẹ con chị D sử dụng, sau này đất đai anh sẽ tặng cho lại các con.
Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: căn cứ các Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, chị D được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đăng T, sinh năm 2010 và cháu Nguyễn Nguyên K, sinh năm 2011 cho chị D nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu là 5.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung: đề nghị không giải quyết. Về nợ chung: đề nghị không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thùy D có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó tiến hành xét xử vắng mặt chị D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ là phù hợp.
Về quan pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ và yêu cầu được nuôi con nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Đ có nơi cư trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tham gia tố tụng: Chị D có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Đ, nên xác định chị D là nguyên đơn, anh Đ là bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị D trình bày cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Đ chơi bời dẫn đến nợ nần. Năm 2019, chị đã nộp đơn yêu cầu ly hôn nhưng anh Đ hứa sẽ thay đổi bản thân nên chị cho anh một cơ hội sửa chữa. Tuy nhiên, anh Đ không hề thay đổi, vẫn chứng nào tật nấy. Ngoài ra, anh Đ còn có những hành động gây ảnh hưởng đến tâm lý, khiến mẹ con chị cảm thấy sợ hãi. Hiện nay chị không thể tiếp tục sống chung với anh Đ được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
Anh Đ không đồng ý ly hôn với chị D vì anh còn thương vợ thương con. Tuy nhiên, anh Đ cũng thừa nhận anh có chơi bời gây ra nợ nần khiến vợ anh giận. Anh đã biết lỗi lầm của mình và mong được vợ con tha thứ. Quá trình giải quyết vụ án, chị D cương quyết yêu cầu ly hôn. Anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng anh Đ không đưa ra được phương án để vợ chồng về đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của chị D và anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị D và anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Đăng T, sinh ngày: 31/01/2010 và cháu Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 10/5/2011. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy, cháu T và cháu K đều có nguyện vọng được sống với mẹ; anh Đ trình bày trường hợp phải ly hôn, các con muốn sống với ai anh sẽ đồng ý với ý kiến của các cháu. Do dó, giao cháu T và cháu K cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.500.000 đồng/01 cháu; hai cháu là 5.000.000 đồng. Anh Đ đồng ý với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D nên ghi nhận sự thỏa thuận trên của chị D và anh Đ là phù hợp.
Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Các đương sự trình bày anh chị không có nợ chung nên không giải quyết. [8] Về án phí: Chị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. [9] Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 56; Điều 81 Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D. 1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01/2018, ngày 03 tháng 12 năm 2008 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng T, sinh ngày: 31/01/2010 và cháu Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 10/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng để chị Nguyễn Thị Thùy D nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng T hàng tháng là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng để chị Nguyễn Thị Thùy D nuôi dưỡng cháu Nguyễn Nguyên K hàng tháng là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Văn Đ được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Nguyễn Thị Thùy D. Khi cần thiết, chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Nguyễn Văn Đ được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008843 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Chị Nguyễn Thị Thùy D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm do có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND cấp xã; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Hương |