- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Thiên P - Phạm Thị C tranh chấp "Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 169 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2024/DS-PT Ngày: 12-01-2024 V/v “tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thúy Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 545/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 266/2023/DS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1047/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Thiên P, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Phạm Thiên P: Bà Lê Thị Bích T, sinh năm: 1964 (có mặt).
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn:
Bà Phạm Thị C, sinh năm: 1963 (có mặt).
Bà Phạm Thị D, sinh năm: 1976 (có mặt).
Cùng địa chỉ: số D, tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Ông Phạm Phương Ẩ, sinh năm: 1976 (có mặt).
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn Phạm Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Phạm Thiên P là bà Lê Thị Bích T trình bày:
Anh Phạm Thiên P là chủ sử dụng thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3.252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A huyện C, tỉnh Tiền Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14 tháng 3 năm 2022. Nguồn gốc đất là do mẹ anh là bà Lê Thị Bích T tặng cho. Trong quá trình anh sử dụng đất thì bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị D, ông Phạm Phương Ẩ có hành vi lấn chiếm đất và ngăn cản anh sử dụng đất nên anh làm đơn khởi kiện ngày 14 tháng 6 năm 2022 yêu cầu bà D trả lại diện tích lấn chiếm khoảng 1000m2 thuộc đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3.252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A huyện C, tỉnh Tiền Giang; yêu cầu bà D bồi thường giá trị phần hàng rào bị tháo dỡ là 5.000.000 đồng; yêu cầu bà D , bà C, ông Ẩ chấm dứt hành vi anh vào thửa đất trên để canh tác. Sau khi anh P kiểm tra lại thì vị trí đất của anh nằm ở vị trí khác so với giấy đất được cấp do khi mẹ anh là bà T nhận đất thì bà C chỉ sai vị trí thửa đất nên khi bà T tặng cho anh lại thửa đất này anh cũng nhầm về vị trí thực tế của thửa đất so với giấy đất được cấp. Nay anh thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: anh yêu cầu xác định lại vị trí đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tại thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3.252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A huyện C, tỉnh Tiền Giang; yêu cầu bà D, bà C, ông Ẩ chấm dứt hành cản trở anh vào canh tác thửa đất số 180 mà anh được quyền sở hữu.
* Bị đơn là bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị C, ông Phạm Phương Ẩ thống nhất trình bày:
Bà D, bà C, ông Ẩ không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì phần đất này có nguồn gốc của ông Phạm Văn H tặng cho lại ông Phạm Văn M.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 266/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ vào Điều 11, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166 Luật đất đai 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thiên P.
Buộc bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị C, ông Phạm Phương Ẩ chấm dứt hành cản trở việc anh Phạm Thiên P thực hiện quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (được ký hiệu T1, T2 theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 21 tháng 4 năm 2023) có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp đất Lê Thành C1, Phan Văn Nghiêm
Hướng Tây giáp đất Võ Thiện P1, Phạm Văn H, thửa 126, thửa 146
Hướng Nam giáp đất Phạm Văn H
Hướng Bắc giáp đất Phạm Văn H
(Có sơ đồ kèm theo)
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
* Ngày 06/11/2023, bị đơn Phạm Thị C có đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 266/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè. Yêu cầu tài sản của Phạm Văn M chỉ chia làm 5 phần, 3 công đất chia làm 5 phần theo đúng pháp luật, 1 phần bà Phạm Thị C, 4 phần cho 3 con ruột và 1 con nuôi và 3 căn nhà cũng chia làm 5 phần như vậy. Còn phần vị trí đất theo y bản đồ quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn M đứng tên.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn anh Phạm Thiên P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn chị Phạm Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung kháng cáo: anh P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang hợp pháp, do đó anh P khởi kiện yêu cầu bà C, bà D, anh Ẩ chấm dứt hành vi cản trở anh P sử dụng thửa đất trên là có căn cứ, bà C kháng cáo yêu cầu tài sản của Phạm Văn M chỉ chia làm 5 phần, 3 công đất chia làm 5 phần theo đúng pháp luật, 1 phần bà Phạm Thị C, 4 phần cho 3 con ruột và 1 con nuôi và 3 căn nhà cũng chia làm 5 phần như vậy. đối với yêu cầu của bà C chưa được cấp sơ thẩm giải quyết do đó yêu cầu kháng cáo không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn anh Phạm Thiên P khởi kiện bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị C, ông Phạm Phương Ẩ về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất. Đất tranh chấp ở ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn anh Phạm Thiên P yêu cầu xác định lại vị trí đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tại thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3.252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A huyện C, tỉnh Tiền Giang; yêu cầu bà D, bà C, ông Ẩ chấm dứt hành cản trở anh vào phần đất thửa số 180 mà anh được quyền sở hữu, án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” đúng theo quy định tại Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị C đúng quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Ngày 06/11/2023, bị đơn Phạm Thị C có đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 266/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè. Yêu cầu tài sản của Phạm Văn M chỉ chia làm 5 phần, 3 công đất chia làm 5 phần theo đúng pháp luật, 1 phần bà Phạm Thị C, 4 phần cho 3 con ruột và 1 con nuôi và 3 căn nhà cũng chia làm 5 phần như vậy. Còn phần vị trí đất theo y bản đồ quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn M đứng tên.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị C:
Thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3.252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A huyện C, tỉnh Tiền Giang anh Phạm Thiên P đứng tên quyền sử dụng đất do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14 tháng 3 năm 2022, việc cấp giấy chứng nhận cho anh P là phù hợp quy định pháp luật. Từ ngày 14/3/2022 khi anh P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay, không có xảy ra tranh chấp hay khiếu nại gì về việc anh P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3.252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bà D, bà C, ông Ẩ đã có hành vi cản trở anh P vào canh tác đối với thửa đất số 180 là vi phạm quy định theo Luật đất đai. Do đó án sơ thẩm buộc bà D, bà C, ông Ẩ chấm dứt hành vi cản trở anh P thực hiện quyền sử dụng đất đối với thửa đất 180 là phù hợp Điều 166 Luật đất đai và Điều 169 Bộ luật dân sự.
Bà C kháng cáo yêu cầu tài sản của Phạm Văn M chỉ chia làm 5 phần, 3 công đất chia làm 5 phần theo đúng pháp luật, 1 phần bà Phạm Thị C, 4 phần cho 3 con ruột và 1 con nuôi và 3 căn nhà cũng chia làm 5 phần như vậy. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà C ở cấp sơ thẩm bà C hoàn toàn không có yêu cầu. Tòa án cấp sơ thẩm cũng không có thụ lý giải quyết đối với yêu cầu tài sản của Phạm Văn M chỉ chia làm 5 phần, 3 công đất chia làm 5 phần theo đúng pháp luật, 1 phần bà Phạm Thị C, 4 phần cho 3 con ruột và 1 con nuôi và 3 căn nhà cũng chia làm 5 phần như vậy. Do đó bà C kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết là không có căn cứ để chấp nhận. Nếu có tranh chấp thì bà C có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
Về án phí: bà Phạm Thị C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị C.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 266/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Căn cứ vào Điều 11, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166 Luật đất đai 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thiên P.
Buộc bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị C, ông Phạm Phương Ẩ chấm dứt hành cản trở việc anh Phạm Thiên P thực hiện quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 180, tờ bản đồ số 27, diện tích 3252,2m2 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (được ký hiệu T1, T2 theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 21 tháng 4 năm 2023) có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp đất Lê Thành C1, Phan Văn N.
Hướng Tây giáp đất Võ Thiện P1, Phạm Văn H, thửa 126, thửa 146.
Hướng Nam giáp đất Phạm Văn H.
Hướng Bắc giáp đất Phạm Văn H.
(Có sơ đồ kèm theo)
2. Về án phí:
2.1. Bà Phạm Thị D, ông Phạm Phương Ẩ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
2.2. Bà Phạm Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
2.3. Anh Phạm Thiên P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh P 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010168 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
“Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Cái Bè; - CCTHADS huyện Cái Bè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Tuyền |