- Tranh chấp gì? án hình sự — "VI Van Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 58/2023/HSST Ngày: 09/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
[
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Lê Thị Hòa.
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hữu Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn T, sinh năm 1985 tại Lạng S; HKTT và chỗ ở: thôn 16, xã Đăk D, huyện Cư J, tỉnh Đăk N; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Chử và bà Lý Thị N (đều đã chết); có vợ Vi Thị P, sinh năm 1986 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jut xử phạt 01 năm 03 tháng tù (theo Bản án số 30/2017/HS-ST ngày 16/8/2017) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 30/4/2018, nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngày 02/10/2017; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/8/2023 - có mặt.
Người chứng kiến:
1/ Ông Lê Đặng Duy V; Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông - vắng mặt.
2/ Ông Bùi Phạm Quang T; Địa chỉ: Bon U2, thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 20/8/2023, Vi Văn T đi nhờ xe của một người đi đường từ Thôn 16, xã Đăk D, huyện Cư J, tỉnh Đăk N đến khu vực ngã ba Trúc Sơn thuộc xã Trúc S, huyện Cư J tìm mua ma túy Heroine để sử dụng. Khi đến nơi, Trịnh đi bộ đến gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ), Trịnh hỏi người này có ma túy không, bán cho một “cái” 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) thì người này nói “có” rồi cầm tiền đi. Một lúc sau người này quay lại chỗ Trịnh đợi và đưa cho Trịnh 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, Trịnh tin đây là ma túy Heroine nên cầm gói giấy bạc trong lòng bàn tay trái rồi tiếp tục đi nhờ xe người đi đường về hướng thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông. Khi đi đến trước cửa hàng thuốc tây ở số nhà 188 đường Trần Hưng Đ, thị trấn Ea T, huyện Cư J, T xuống xe đi bộ vào cửa hàng để mua bơm kim tiêm và nước cất thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Môi trường - Ma túy Công an huyện Cư Jut phát hiện ở trong lòng bàn tay trái của T có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chất rắn màu trắng nghi là Heroin. Sau đó, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Môi trường - Ma túy Công an huyện Cư Jut tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định (Bút lục số 23-26; 61-72).
Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo T còn khai nhận đã sử dụng ma túy Heroine từ tháng 02/2023 cho đến khi bị bắt; nguồn gốc ma túy là do T mua của một người không rõ nhân thân lai lịch ở khu vực thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk và số ma túy mua được T đã sử dụng hết.
Vật chứng:
- 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy Heroine được thu giữ trong lòng bàn tay trái của Vi Văn T được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký xác nhận của Vi Văn T, Bùi Phạm Quang T, Lê Đặng Duy V và dấu tròn đỏ của Công an TT. Ea Tling.
Tại kết luận giám định số 314/KL - KTHS ngày 25/8/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong một gói giấy bạc màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng mẫu là 0,1795 gam.
Bản cáo trạng số 58/CTr-VKS ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Vi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Vi Văn T từ 18 (Mười tám) đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,1675 gam Heroine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm, gói ziper này và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 314/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Cư Jut và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 20/8/2023, trước số nhà 188 đường Trần Hưng Đ, tổ dân phố 02, thị trấn Ea Tl, huyện Cư J, tỉnh Đăk N, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Môi trường - Ma túy Công an huyện Cư Jut phát hiện và bắt quả tang ở trong lòng bàn tay trái của bị cáo T có 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chất rắn màu trắng. Theo kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong một gói giấy bạc màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng mẫu là 0,1795 gam. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự công cộng và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển lành mạnh của xã hội. Mặt khác nó còn là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức được heroin là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng để có ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn cho nhu cầu bất chính của bản thân, bị cáo vẫn cố ý phạm tội chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.
Do đó đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tuy nhiên ngày 16/8/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jut xử phạt 01 năm 03 tháng tù (theo Bản án số 30/2017/HS-ST ngày 16/8/2017) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 30/4/2018, nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngày 02/10/2017 đây là những tình tiết xem xét, lưu ý khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1675 gam là tang vật của vụ án, thuộc loại vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Những vấn đề khác trong vụ án: Đối với việc bị cáo Vi Văn T khai ngày 20/8/2023 đã mua ma túy của một người đàn ông ở khu vực đường ngã ba Trúc Sơn, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông nhưng hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút sẽ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Ma túy mà bị cáo Vi Văn T khai đã sử dụng vào những lần trước ngày 20/8/2023 là do bị cáo mua ở Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk của ở một người không rõ nhân thân lai lịch, bị cáo đã sử dụng hết, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/08/2023.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,1675 gam Heroine còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói ziper chỉ đỏ có kích thước (4x6) cm, gói ziper này và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được để trong 01 bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 314/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả, mặt sau bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám định, đại diện Công an huyện Cư Jut và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông.
(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Cư Jút với Chi cục Thi hành án huyện Cư Jút ngày 12/10/2023).
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Vi Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Vi Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND Tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - CCTHADS huyện Cư Jút; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |