- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày 10 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Yên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Định - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Viết D, sinh năm 1961 tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu V, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ văn hoá: Lớp 10/10; nghề nghiệp: Trồng trọt; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Viết B (Đã chết), con bà Lại Thị B, vợ Trần Thị N, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Tại bản án số 169 ngày 25/12/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 54 tháng, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt bổ sung 3.000.000 đồng. Chấp hành xong án phí ngày 10/6/2006, được miễn toàn bộ tiền phạt bổ sung ngày 19/8/2011 (Đã được xóa án tích)
Ngày 06/01/2011 Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 10/01/2011 (Đã được xóa tiền sự).
Ngày 12/12/2011 Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 13/12/2011 (Đã được xóa tiền sự).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 21/12/2022, Lê Viết D đi bộ đến khu vực đồng cỏ, thuộc tiểu khu Vường Đào, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu thì gặp một người phụ nữ không quen biết, D đã hỏi mua được 13 viên Methamphetamine với giá 200.000 đồng, có được ma túy D tìm nơi sử dụng thì gặp tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện bắt quả tang, vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu đen bên đựng 13 viên nén màu hồng nghi là ma túy loại Methamphetamine.
Ngày 21/12/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành xác định khối lượng 13 viên nén màu hồng thu giữ của Lê Viết D được 1,30 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,50 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu D.
Tại Kết luận giám định số 67 ngày 22/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,30 gam loại Methamphetamine”.
Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La truy tố Lê Viết D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Viết D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Viết D từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng 08 viên = 0,80 gam, 01 mảnh nilon màu đen và phong bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lê Viết D.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Viết D.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Viết D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, số ma túy bị thu giữ là Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,30 gam, nguồn gốc do bị cáo mua của người phụ nữ không quen biết, để sử dụng cho bản thân. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mộc Châu lập hồi 21 giờ 45 phút, ngày 08/12/2022; biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số 1836 ngày 12/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là chất ma túy, loại Methamphetamine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.
3 Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo tàng trữ khối lượng 1,30 gam Methamphetamine, do đó Lê Viết D đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã 01 lần bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và 02 lần bị áp xử phạt vi phạm hànhh chính về hành vi đánh bạc đã được xóa án tích, là đối tượng nghiện hút chất ma tú y . Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
4 Về hì nh phạ t bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.
5 Về vật chứng:
Đối với: 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng 08 viên = 0,80 gam, 01 mảnh nilon màu đen và phong bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lê Viết D. Xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cùng vật không còn giá trị sử. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
6 Về các vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo đã khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, do đó không có căn cứ điều tra làm rõ, vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
7 Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Viết D.
Thờ i hạ n tạ m giam của bị cá o còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam 45 ngày đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Viết D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lê Viết D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng 08 viên = 0,80 gam, 01 mảnh nilon màu đen và phong bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) phong bì còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lê Viết D.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Viết D.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La ; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THA huyện Mộc Châu; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Ngọc Hà |