vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày: 20 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Đào Thị Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Trường Ca và ông Nguyễn Văn Bạn.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường-Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linhtham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sựthụ lý số 51/2023/TLST-HS ngày 25tháng 4 năm 2023theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 5 năm 2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian, địa điểm xét xử số 08/2023/TB - TA ngày 07 tháng 6 năm 2023đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2000 tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N; vợ là Bùi Thị D; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bịbắt tạm giam từ ngày 02/02/2023, hiện đang bị tạm giamtại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Minh H, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu dân cư L, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2004; địa chỉ: Khu dân cư M, phường T, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 28/12/2022, Nguyễn Tuấn K đặt mua trên mạng 900.000 đồng được 03 hộp thuốc, bên trong mỗi hộp thuốc chứa 06 điều thuốc, trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi khô màu vàng được tẩm ma túy với mục đích bán kiểm lời. Sau khi đặt mua xong, K đã xóa hết các tin nhắn với người bán. K đã từng sử dụng nên biết trong các điếu thuốc có chứa ma tuý. Mua được thuốc, K chia thành 02 hộp (01 hộp chứa 15 điếu thuốc, 01 hộp chứa 03 điếu thuốc). K cất giấu 02 hộp chứa các điếu thuốc ở đầu giường phòng ngủ tại nhà Khanh ở khu dân cư Đ, phường H, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đến khoảng 12 giờ ngày 03/01/2023, K lấy hộp thuốc bên trong chứa ba điếu thuốc cất vào trong túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh - trắng, biển số: 34C1-345.85 do Khanh mượn trước đó của anh Trần Kế M rồi đi ra chợ S thuộc phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương để chơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Bùi Minh H có mượn điện thoại Iphone 7 Plus của anh Quảng Đình D để nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho K và hỏi mua 03 điếu thuốc chứa ma túy để H sử dụng, K đồng ý và thoả thuận bán cho H với giá 360.000 đồng. H bảo K cầm thuốc ra quán Internet 15A, ở khu dân cư T2, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. K đi xe mô tô đến gần cửa quán Internet ở phía đối diện nhà số 24, đường H, khu dân cư T2, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thì gặp H đi ra. K đưa cho H 01 hộp thuốc bên trong chứa 03 điếu thuốc có chứa ma tuý, H đưa lại cho K 200.000 đồng và bảo K chờ H lấy thêm tiền. H cất bao thuốc vào trong túi quần bên trái và đi vào trong quán lấy thêm 200.000 đồng ở trong ví đặt gần máy tính chỗ H sử dụng cầm ra để đưa cho K. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, Khi H đang cầm tiền để đưa cho K thì bị Công an thành phố Chí Linh kiểm tra, phát hiện, lập biên bản thu giữ trong lòng bàn tay phải của K 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của H 01 hộp thuốc, bên ngoài có chữ “Cupid”, kích thước (9,5x6,5x2)cm, bên trong chứa 03 điếu thuốc hình trụ tròn, đường kính 0,8 cm, chiều dài 8 cm, bên trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi khô màu vàng tẩm ma tuý; thu giữ trong lòng bàn tay trái của H 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Tạm giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh - trắng, biển kiểm soát 34C1-345.85; 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Redmi (tình trạng không sử dụng được); 01 điện thoại Iphone 7 Plus. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe máy cho anh M, trả lại chiếc điện thoại Iphone 7 Plus cho anh D.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tuấn K, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại đầu giường phòng ngủ của K 01 hộp màu trắng, kích thước (9,5x6,5x2)cm, bên ngoài có chữ “Luxury”, bên trong chứa 15 điếu thuốc, hình trụ tròn, đường kính 0,8 cm, chiều dài 8 cm, bên trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi khô màu vàng, K khai nhận các điếu thuốc đều tẩm ma tuý, K cất giấu để bán kiếm lời.

Tại Bản kết luận giám định số 76/KLGĐ - KTHS ngày 13/01/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Tìm thấy chất ma túy ADB-BUTINACA trong các mẫu sợi thực vật khô, màu vàng gửi giám định. Khối lượng mẫu lần lượt là 2,345 gam và 14,136 gam. Hiện nay, Viện khoa học hình sự chưa có mẫu chuẩn định lượng ADB-BUTINACA nên không xác định được khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong các mẫu gửi giám định.

Tại Công văn số 389/C09-TT2 ngày 23/02/2023 của Viện khoa học hình sự

- Bộ Công an về việc giải thích kết luận giám định: Ở điều kiện thường, chất ADB-BUTINACA tồn tại ở thể rắn, dạng kết tinh màu trắng. Chất ADB - BUTINACA được phun tẩm vào mẫu sợi thực vật khô, màu vàng (mẫu sợi thực vật khô, màu vàng là chất mang, không chứa chất ma túy).

Tại Bản kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 07/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng, số seri: GE 21717658 là tiền thật; 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng, số seri lần lượt là: XU 18963632, AP 19322856 là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS-CL ngày 24/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố Nguyễn Tuấn K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Viện khoa học hình sự số 76/C09 (TT2), mặt sau có 5 dấu đỏ giáp lai của Viện khoa học hình sự và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì đựng: 01 phong bì ký hiệu 1, trong phong bì này chứa 2,295 gam mẫu thực vật khô; 01 phong bì ký hiệu 4, trong phong bì này chứa 13,977 gam mẫu thực vật khô; các vỏ bao gói. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Redmi, tình trạng máy hỏng, không hoạt động, trong máy không lắp thẻ sim. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng có số seri GE 21717658 và 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng có số seri lần lượt là XU 18963632 và AP 19322856 được đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Công an tỉnh Hải Dương, số 37/KL-KTHS, mặt sau có 04 dấu đỏ giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hải Dương và 04 chữ ký niêm phong mẫu.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các biên bản vụ việc, biên bản khám xét, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 03/01/2023, tại rìa đường phía đối diện nhà số 24, đường H, khu dân cư T 2, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Tuấn K có hành vi bán trái phép cho Bùi Minh H 01 hộp bên trong chứa 03 điếu thuốc, bên trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi thực vật khô, màu vàng, tổng khối lượng 2,345 gam, có tẩm ma tuý, loại ADB-BUTINACA với số tiền 360.000 đồng thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tuấn K, thu giữ 01 hộp bên trong chứa 15 điếu thuốc, bên trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi thực vật khô, màu vàng, tổng khối lượng 14,136 gam, có tẩm ma tuý, loại ADB-BUTINACA, K cất giấu để bán kiếm lời (không xác định được khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong các mẫu thực vật khô, màu vàng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vì mục đích thu lợi bất hợp pháp nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi bán trái phép 03 điếu thuốc, bên trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi thực vật khô, màu vàng, có tẩm ma tuý, loại ADB-BUTINACA và cất giấu trái phép 15 điếu thuốc, bên trong mỗi điếu thuốc đều chứa các sợi thực vật khô, màu vàng, có tẩm ma tuý, loại ADB-BUTINACA, (không xác định được khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong các mẫu thực vật khô màu vàng) với mục đích bán kiếm lời nênđã cấu thành thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện để trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bán ma tuý với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã thu giữ 03 điếu thuốc lá, bên trong mỗi điếu thuốc chứa các sợi thực vật khô màu vàng, có tẩm ma tuý, loại ADB-BUTINACA, có trọng lượng mẫu thực vật khô là 2,345 gam và 15 điếu thuốc lá, bên trong mỗi điếu thuốc chứa các sợi thực vật khô màu vàng, có tẩm ma tuý, loại ADB-BUTINACA, có trọng lượng mẫu thực vật khô là 14,136 gam (khối lượng hoàn lại sau giám định lần lượt là 2,295 gam; 13,977 gam, không xác định được khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong các mẫu thực vật khô, màu vàng)là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ bao gói; phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được niêm phong trong phong bì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Redmi, tình trạng máy hỏng, không hoạt động, trong máy không lắp thẻ sim của bị cáo K là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu cho phát mại, sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối vớisố tiền 200.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ của K gồm 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng đựng trong phong bì niêm phong là tiền do phạm tội mà có của bị cáo. Đối với số tiền 200.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ của H gồm 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng đựng trong phong bì niêm phong là tiền H trả cho K để mua ma tuý, H đề nghị Toà án tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền này. Do vậy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền trên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo K, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lý lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh không có căn cứ để xử lý nên không xem xét.

Đối với hành vi của Bùi Minh H mua ma tuý về với mục đích để sử dụng trái phép, do không xác định được khối lượng ma tuý mà H mua của K nên không có căn cứ để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H. Công an thành phố Chí Linh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPHC ngày 11/4/2023 đối với Bùi Minh H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh - trắng, biển số 34C1-345.85 là tài sản hợp pháp của anh Trần Kế M, anh M không biết việc K sử dụng xe để đi bán ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh M nên không đặt ra giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus là tài sản hợp pháp của anh Quảng Đình D, anh D không biết H mượn điện thoại để nhắn tin mua ma túy của K nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho anh D nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/02/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

- Về xử lý vật chứng:Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Viện khoa học hình sự số 76/C09 (TT2), mặt sau có 5 dấu đỏ giáp lai của Viện khoa học hình sự và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì đựng: 01 phong bì ký hiệu 1, trong phong bì này chứa 2,295 gam mẫu thực vật khô; 01 phong bì ký hiệu 4, trong phong bì này chứa 13,977 gam mẫu thực vật khô; các vỏ bao gói. Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Redmi, tình trạng máy hỏng, không hoạt động, trong máy không lắp thẻ sim. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng có số seri GE 21717658 và 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng có số seri lần lượt là XU 18963632 và AP 19322856 được đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: Công an tỉnh Hải Dương, số 37/KL-KTHS, mặt sau có 04 dấu đỏ giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hải Dương và 04 chữ ký niêm phong mẫu.

(Vật chứng hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2023 giữa Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hậu

Cỡ chữ