vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 12/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Anh T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/01/2023. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: chất bột dạng cục màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0730 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Anh Tiến - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày: 12/05/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình – Ông Đặng Đình Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/HS-ST ngày 07/04/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 28/04/203 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Anh T, sinh năm:1977, nơi cư trú: số nhà 542, đường Nguyễn Công T, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Như Y và con bà: Trần Thị T (đều đã chết); Vợ: Nguyễn Thị M và 01 con: sinh năm 2002. Tiền án,tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 7/9/2005 Ủy ban nhân dân thị xã Ninh Bình ra quyết định về việc đưa người nghiện vào Trung tâm chữa bệnh – Giáo dục lao động xã hội tỉnh Ninh Bình thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 17/6/2009. Ngày 26/8/2011 tại bản án hình sự sơ thẩm số 101/2011/HSST Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đỗ Anh T 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2012, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 7/11/2011. Ngày 11/01/2014 Công an phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03, phạt tiền 100.000 đồng về hành vi “ Mua bán số đề”. Đã nộp phạt ngày 11/01/2014.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2023 đến ngày 17/01/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị M sinh năm: 1978

Trú tại: phố T, phường N, thành phố Ninh Bình. Vắng mặt

2.2 Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1957 vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 h ngày 09/01/2023 tổ công tác công an phường Ninh Phong phối hợp với công an phường Ninh Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực đường Nguyễn Công Trứ, phố Thanh Bình, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình phát hiện thấy 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra người điều khiển phương tiện chấp hành và khai báo tên là Đỗ Anh T, do T biết sẽ bị phát hiện nên thả một túi nilon màu xanh bên trong có ma túy đang cầm ở tay trái xuống vị trí để giá chân của xe mô tô, biết không thể che giấu được hành vi vi phạm, Đỗ Anh T đã khai nhận vừa thả một túi nilon màu xanh bên trong có ma túy vừa mua xuống giá để chân xe mô tô mình đang điều khiển đồng thời tự giác nhặt một túi nilon màu xanh bên trong có ma túy giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác tiến hành thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định rồi đưa Đỗ Anh T cùng tang vật về trụ sở công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS biển kiểm soát 35B2-452.49.

Tại cơ quan công an Đỗ Anh T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do có biết người tên là Nguyễn Tử T, khoảng 30 tuổi nhà ở khu vực đường Nguyễn Huệ, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình bán ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 09/01/2023, Đỗ Anh T đi đến khu vực đường Nguyễn Huệ, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình có việc thì gặp T1 đang đứng ở đó. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, Đỗ Anh T hỏi mua của T1 200.000 đồng ma túy, T1 đồng ý nói Tiến đứng đợi rồi đi vào một ngôi nhà gần đó. Một lúc sau, T đi tới ngôi nhà T1 vừa đi vào để gọi T1, trong nhà lúc này có tiếng của một người đàn ông trả lời, sau đó T đưa số tiền 200.000 đồng qua khe cửa nhà để mua ma túy, người đàn ông trong nhà nhận tiền và đưa lại qua khe cửa cho T 01 túi nilon màu xanh kích thước khoảng (1x2)cm. Xác định túi nilon người đàn ông này đưa bên trong có chứa ma túy nên T cầm ở tay trái đi về tìm nơi để sử dụng, trên đường đi thì bị phát hiện bắt giữ. Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong túi nilon màu xanh thu giữ của Đỗ Anh T, kết quả: Chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng là 0,115 gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được cho vào túi nilon ký hiệu M1 để gửi trưng cầu giám định, xác định loại ma túy và khối lượng chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 49/KLGĐ-KTHS-MT Ngày 07/04/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu Chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1078gam là ma túy, loại Heroine (Heroin). Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Sau khi giám định cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: chất bột dạng cục màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0730 gam là ma túy loại Heroine ( Heroin), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 118/KL-KTHS-MT.

Qúa trình kiểm tra bắt giữ Đỗ Anh T, tổ công tác đã tiến hành quay video ghi lại diễn biến sự việc để làm căn cứ giải quyết vụ việc. Tại bản kết luận giám định số 190/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 22/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 07/03/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đỗ Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Anh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Đỗ Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Anh T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/01/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu;

Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Anh T không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Đỗ Anh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, đủ căn cứ kết luận: hồi 12 giờ 15 phút ngày 09/01/2023 tại đường Nguyễn Công Trứ, phố Thanh Bình, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, Đỗ Anh T có hành vi cất giấu trái phép 0,1078 gam ma túy loại He rô in nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt giữ, hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại không chịu tu dưỡng rèn luyện, để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn đi vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Khi lượng mức hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, ngày 7/9/2005 bị đưa vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục lao động xã hội tỉnh Ninh Bình thời hạn 24 tháng; ngày 11/01/2014 Công an phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03, phạt tiền 100.000 đồng về hành vi “ Mua bán số đề”. Ngày 26/8/2011 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đỗ Anh T 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi ra trại bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo không thay đổi, coi thường pháp luật, nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo Đỗ Anh T tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

- Nguồn gốc ma túy: quá trình điều tra bị cáo khai nhận mua của người đàn ông tên Nguyễn Tử T có đặc điểm khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m65 đến 1m70 nhà ở đường Nguyễn Huệ, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình. Ngày 09/01/2023 bị cáo gặp T1 và hỏi mua ma túy Heroine của T1, T1 đồng ý bán cho bị cáo sau đó đi vào trong một ngôi nhà gần đó đến khi bị cáo đến ngôi nhà T1 đi vào và gọi T1 để mua ma túy thì chỉ nghe thấy có tiếng của một người đàn ông trả lời trong nhà rồi đưa ma túy qua khe cửa bán cho bị cáo. Bị cáo T khai không xác định được người đàn ông ở trong nhà đưa ma túy có phải là T1 hay không, không nhớ được vị trí cũng như đặc điểm của ngôi nhà này. Tiến hành xác minh nhân thân lai lịch của người đàn ông tên Nguyễn Tử T, Công an phường Nam Bình cung cấp trên địa bàn phường Nam Bình không có công dân nào tên Nguyễn Tử T như bị cáo Tiến khai báo. Như vậy, với những tài liệu điều tra đã thu thập được, xét thấy không có đủ cơ sở để tiếp tục điều tra làm rõ người đàn ông tên Nguyễn Tử T có đặc điểm như bị cáo T khai báo.

- Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT thu giữ của bị cáo Đỗ Anh T chất dạng tinh thể màu trắng, sau khi giám định hoàn trả lại đối tượng giám định gồm: chất bột dạng cục màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0730 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS màu đen mang Biển kiểm soát 35B2-452.49, quá trình điều tra xác định chiếc xe nói trên không có trong hệ thống xe tang vật của vụ án nào, đăng ký xe mang tên Lê Thị H, sinh năm 1973, trú tại đường Nguyễn Viết X, phố Vạn X, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, sau này không có nhu cầu sử dụng nên đã bán lại cho cửa hàng xe máy Dũng Lộc vào năm 2021. Ngày 20/06/2022 anh D chủ cửa hàng xe bán lại chiếc xe mô tô này cho chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1978, trú trại phố Thượng L, phường Ninh S, thành phố Ninh Bình (là vợ của Đỗ Anh T) với giá tiền là 18.000.000 đồng. Từ khi mua chiếc xe này chị M vẫn sử dụng đăng ký xe máy do người chủ xe cũ đăng ký. Khoảng 11 giờ ngày 09/01/2023, Đỗ Anh T mượn chiếc xe này của chị M nói đi có việc sau đó sử dụng để đi mua ma túy. Bản thân chị M khai nhận không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc xe nêu trên của mình để đi mua và sử dụng ma túy, đồng thời số tiền 18.000.000 đồng để mua chiếc xe mô tô trên là do bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ chị M) cho riêng để chị M mua xe làm phương tiện đi lại, chiếc xe này là tài sản riêng của chị M. Ngày 03/02/2023 chị M có đơn xin lại chiếc xe trên, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho chị Nguyễn Thị M. Việc trả lại trên là có căn cứ, đúng quy định nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Anh T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/01/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: chất bột dạng cục màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0730 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 04 năm 2023 giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Anh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ